vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Tố Ng - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHĨA LỘ
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:42/2023/HS-ST
Ngày 31 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tý

2. Ông Phạm Việt Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Trần Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Phùng Tố Ng, sinh ngày 20/10/1978 tại thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ 4, phường P Tr, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;con ông Phùng Chiến Kh và bà Nguyễn Thị Ph (đều đã chết); chồng là Nhữ Anh Tuấn (đã ly hôn) và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

2. Đào Duy Th, sinh ngày 24/02/1972; tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Tổ 6, phường T A, thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Trọng Đ (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1946; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 và có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 29/12/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Ng L, tỉnh Yên Bái xử phạt 01 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

3. Trần Đình T, sinh 07/8/1990 tại thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ 1 phường Tr T, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng Th; vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

4. Lâm Tuấn A, sinh ngày 03/8/2004 tại huyện V Ch, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ 1, thị trấn nông trường LS, huyện V Ch, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn Th, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1982. Bị cáo có hai chị em; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

5. Trần Văn Kh, Sinh ngày 20/10/1982. Tại thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ B L, phường Tr T, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kh (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1954; có vợ là Cầm Thị H, sinh năm 1987 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

6. Phùng Minh Ngh, sinh ngày 06/6/1982. Tại thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ 6, phường Tr T, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.Nghề nghiệp:Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Quang Thuận (đã chết) và bà Phùng Thị Yên, sinh năm 1942; có vợ là Nguyễn Thị Lệ Hằng (đã ly hôn) và có 01con; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Ngày 04/3/2013 bị Công an thị xã Nghĩa Lộ xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng (đã chấp hành xong).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/3/2023 đến ngày 18/3/2023; Hiện bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú “Có mặt”.

- Người làm chứng:

+ Nguyễn Thị Hồng Th, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Tổ 1, phường Tr T, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

+ Vũ Xuân Ch, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ 4, phường T A, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

+ Nguyễn Hữu N, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu 1B, phường V Ph, thành phố V Tr, tỉnh Ph Th. “Vắng mặt”.

+ Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Tổ 4, phường Ng Th H,

thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

+ Phạm Thị T, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ 8, phường P Tr, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

+ Mai Đức G, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ 2, phường Tr T, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

+ Phạm Minh Đ, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ 2, phường Tr T, thị xã

Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 10 phút ngày 16/3/2023, tại nhà riêng của Phùng Tố Ng, thuộc tổ 4, phường P Tr, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ngh L phát hiện và bắt quả tang trên 02 chiếu có 09 đối tượng đang đánh bạc, được thua bằng tiền. Cụ thể:

Chiếu thứ nhất, tại phòng khách, gồm có Đào Duy Th, Phùng Minh Ngh, Trần Đình T, Trần Văn Kh và Lâm Tuấn A đánh bạc dưới hình thức sử dụng bài lá đánh “Liêng”.

Chiếu thứ hai, tại phòng ngủ, gồm có Vũ Xuân Ch, Nguyễn Thị Hồng Th, Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Hữu N, đánh bạc dưới hình thức sử dụng bài lá đánh “Sâm”.

Ngoài các đối tượng tham gia đánh bạc nêu trên, thì tại nhà Phùng Tố Ng còn có Phạm Thị T, Mai Đức G, Phạm Minh Đ và Phùng Tố Ng là những người đứng xem.

* Về vật chứng, tài sản tạm giữ gồm:

- Thu giữ tại chiếu bạc đánh “Liêng” 01 bộ bài lá (Bài tú lơ khơ) 52 quân và số tiền 6.000.000 đồng.

- Thu giữ tại chiếu bạc đánh “Sâm” 01 bộ bài lá (Bài tú lơ khơ) 52 quân và số tiền 4.235.000 đồng.

- Tạm giữ tài sản của những người bị bắt giữ gồm: Phùng Thị Tố Ng 01 chiếc điện thoại di động và 800.000 đồng (để trong hộp gỗ). Thu gữ trong người Phùng Minh Ngh 10.400.000 đồng và 02 chiếc điện thoại di động; Đào Duy Th 1.140.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Trần Đình T 1.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Trần Văn Kh 1.640.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Lâm Tuấn A 1.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Vũ Xuân Ch 2.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Nguyễn Thị Hồng Th 5.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; Nguyễn Ngọc Q 01 chiếc điện thoại di động; Nguyễn Hữu N 14.500.000 đồng và 02 chiếc điện thoại di động.

Ngoài ra còn tạm giữ của các đối tượng 07 xe mô tô các loại; 01 xe ô tô và 01 xe máy điện.

Diễn biến của vụ án thể hiện: Khoảng 22 giờ ngày 15/3/2023, Nguyễn Thị Hồng Th đến nhà Phùng Tố Ng để gội đầu, sau đó Vũ Xuân Ch và Nguyễn Ngọc Q cũng đến chơi, ngồi nói chuyện. Thấy tại nhà Ng có sẵn bài tú lơ khơ, nên Ch, Q, Th bảo Ng cho mượn bài và mượn phòng ngủ để đánh bạc dưới hình thức đánh “Sâm” được thua bằng tiền, Ng đồng ý và cùng thống nhất trong quá trình đánh, nếu ai thắng “Sâm” sẽ bỏ ra cạnh chiếu số tiền 30.000 đồng, sau khi kết thúc cuộc chơi thì đưa cho Ng để Ng dọn dẹp phục vụ chè nước. Khi cả ba đang chơi thì Nguyễn Hữu N đến và cùng tham gia đánh “Sâm” với Ch, Qu, Th.

Hình thức đánh “Sâm” được các đối tượng quy định như sau: Các đối tượng sử dụng bộ tú lơ khơ gồm 52 quân để chơi. Một ván chơi mỗi người được chia 10 quân bài, quân bài bé nhất là quân 3, quân bài to nhất là quân 2, người có cái được đánh bài xuống chiếu trước, rồi lần lượt đến những người khác theo một vòng nhất định, có thể đánh một quân hoặc nhiều quân một lần, quân to hơn chặn được quân bé hơn hoặc nhiều quân to sẽ chặn nhiều quân bé hơn, ai đánh hết bài trước, được coi là thắng ván đó, những người còn lại sẽ đếm quân bài chưa đánh hết của mình, nhân với 10.000 đồng/1 quân trả cho người thắng; người nào sâm sẽ được mỗi người trả cho 200.000 đồng, người báo sâm mà bị người khác chặn, thì người báo sâm phải trả cho người chặn được sâm số tiền 600.000 đồng; người nào treo, tức không đánh được quân bài nào của mình, thì phải trả cho người thắng 150.000 đồng. Quá trình chơi, Nguyễn Thị Hồng Th bỏ ra 1.000.000 đồng; Vũ Xuân Ch sử dụng 1.200.000 đồng; Nguyễn Ngọc Q sử dụng 1.035.000 đồng; Nguyễn Hữu N sử dụng 1.000.000 đồng để chơi. Tổng số tiền Th, Ch, Q, N sử dụng vào việc đánh bạc, dưới hình thức đánh “Sâm” là 4.235.000 đồng.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A lần lượt đến nhà Ng, thấy trong phòng ngủ có người đánh bạc, nên T, Th, Tuấn A hỏi Ng cho ngồi tại phòng khách để đánh bạc, dưới hình thức đánh “Liêng” sát phạt nhau bằng tiền, Ng đồng ý và cũng thống nhất mỗi người tham gia chơi sẽ đưa cho Ng 100.000 đồng. T, Tuấn A mỗi người đưa cho Ng 100.000 đồng, còn Th bảo chơi xong sẽ đưa sau. Ng nhận tiền và đưa bài để mọi người chơi, khi đang chơi thì Phùng Minh Ngh, Trần Văn Kh đến, Ngh và Kh mỗi người đưa cho Nga 100.000 đồng, sau đó cùng tham gia đánh bạc với T, Th và Tuấn A.

Hình thức đánh “Liêng” được quy định như sau: Các đối tượng sử dụng bộ tú lơ khơ gồm 52 quân để chơi. Bắt đầu mỗi ván chơi mỗi người sẽ để vào giữa chiếu 50.000 đồng (Gọi là đốc), rồi được người cầm cái chia cho 03 quân bài, bài của ai người đó xem và giữ bí mật về những lá bài của mình, nếu thấy bài của mình không thể thắng được bài của những người khác thì có thể bỏ, không tham gia ván chơi này, còn nếu thấy bài của mình có thể thắng được bài của những người khác thì sẽ tham gia chơi, người cầm cái sẽ đặt tiền vào giữa chiếu trước, nhưng không quá 200.000 đồng, sau đó đến những người tiếp theo, có thể đặt số tiền bằng hoặc lớn hơn số tiền đặt của người cầm cái và của những người đã đặt trước, nhưng cũng không quá 200.000 đồng và được gọi là tố. Một người có thể được tố nhiều lần, nhưng cũng có thể bỏ ván chơi ở bất cứ lúc nào, những người bỏ ván chơi sẽ bị mất số tiền 50.000 đồng đã đặt đầu tiên và cũng mất luôn số tiền đã tố. Khi không còn ai tố nữa, hoặc số tiền tố của mỗi người đã đến 200.000 đồng, thì những người đang còn tham gia chơi sẽ mở bài cho mọi người cùng xem, bài ai lớn nhất sẽ thắng toàn bộ tiền mà những người chơi đã đặt vào giữa chiếu. Bài lớn nhất gọi là “Sáp”, gồm ba quân bài có cùng giá trị, trong đó “Sáp” AAA là lớn nhất; nhỏ nhất là “Sáp” 222; tiếp đến là “Liêng”, gồm ba quân bài liền kề nhau, liêng lớn nhất là QKA, nhỏ nhất là A23; tiếp đến là “Ảnh”, gồm 03 quân bài hình người QQK, KKJ; sau cùng là tính điểm, trong đó 09 điểm là lớn nhất, 03 lá bài nào cộng lại mà 10 điểm, thì bài đó chỉ tính là 0 điểm. Quá trình chơi, Trần Đình T sử dụng 1.290.000 đồng; Đào Duy Th sử dụng 1.060.000 đồng; Lâm Tuấn A sử dụng 1.490.000 đồng; Phùng Minh Ngh sử dụng 1.090.000 đồng; Trần Văn Kh sử dụng 1.070.000 đồng để chơi. Tổng số tiền T, Th, Tuấn A, Ngh và Kh sử dụng vào việc đánh bạc, dưới hình thức đánh “Liêng” là 6.000.000 đồng.

Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của 02 chiếu bạc tại nhà Phùng Tố N là 10.235.000 đồng. Trong lúc các đối tượng đang sát phạt nhau thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ng L bắt quả tang, Phùng Tố Ng chưa kịp thu tiền (Tiền hồ) của chiếu đánh “Sâm” và của Đào Duy Th. Số tiền 800.000 đồng thu giữ trong hộp gỗ tại nhà Ng có 400.000 đồng Ng vừa thu được của T, Tuấn A, Ngh và Kh.

Tại bản Kết luận giám định số 197/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã kết luận: Toàn bộ số tiền 47.715.000 đồng thu giữ của các đối tượng tham gia đánh bạc ngày 16/3/2023 đều là tiền thật” (BL 370-372).

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-NL ngày 13/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố:

- Bị cáo Phùng Tố Ng về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.

- Các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Khovà Phùng Minh Ngh về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Trần Đình T, Lâm Tuấn A,Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phùng Tố Ng có cha đẻ là người có công với nước; Bị cáo Trần Văn Kh năm 2022 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Ng L tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an tinh Tổ quốc”; bị cáo Phùng Minh Ngh có anh ruột (Phùng Quang O) là liệt sỹ, có thể xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, bổ sung một phần quyết định truy tố, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” đối với bị cáo Đào Duy Th theo quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đối với Trần Đình T, xác định lại là người chưa bị xử phạt vi phạm Hành chính năm 2019 (theo BL 194) và đề nghị:

- Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Phùng Tố Ng phạm tội “Gá bạc”;

Các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh phạm tội Đánh bạc.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Tố Ng từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s, u khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Duy Th 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,

- Phạt tiền bị cáo Lâm Tuấn A số tiền từ 25 đến 30 triệu đồng;

- Phạt tiền bị cáo Trần Đình T số tiền từ 25 đến 30 triệu đồng;

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự,

- Phạt tiền bị cáo Trần Văn Kh số tiền từ 20 đến 25 triệu đồng;

- Phạt tiền bị cáo Phùng Minh Ngh số tiền từ 20 đến 25 triệu đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu số tiền, cụ thể: Tại chiếu đánh Sâm không bị xử lý trách nhiệm hình sự là 4.235.000 đồng; tại chiếu đánh Liêng là 6.000.000 đồng; 400.000 đồng tiền thu giữ của Phùng Tố Ng do phạm mà có (tiền hồ). Tổng cộng là 10.635.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước; tiêu hủy 02 bộ bài tú lơ khơ (52 quân bài); 02 chiếc thảm cũ, 14 vỏ phong bì đã mở niêm phong.

Trả lại cho các bị cáo số tiền không liên quan đến tội phạm, cụ thể: Phùng Tố Ng 400.000đồng; Phùng Minh Ngh 10.400.000đồng; Đào Duy Th 1.140.00 đồng; Trần Văn Kh 1.640.000 đồng; Trần Đình T 1.000.000đồng; Lâm Tuấn A 1.000.000đồng.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.

* Các bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên, thành khẩn khai báo và nói lời sau cùng có bị cáo Đào Duy Th xin giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo còn lại không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, tranh cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, trong khoảng thời gian từ 22 giờ, ngày 15/3/2023 đến 00 giờ 10 phút ngày 16/3/2023, Phùng Tố Ng đã sử dụng địa điểm là phòng ngủ và phòng khách trong nhà của mình, tại tổ 4, phường P Tr, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái cho 09 người đánh bạc trái phép trên 02 chiếu dưới hình thức đánh “sâm” và đánh “liêng” để thu tiền. Tổng số tiền dùng để đánh bạc trên 02 chiếu bạc là 10.235.000 đồng; Phùng Tố Ng đã thu được số tiền 400.000 đồng từ việc cho những người đánh bạc tại nhà của mình. Từ đó đã có đủ căn cứ khẳng định bị cáo Phùng Tố Ng đã phạm tội “Gá bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự.

Cũng khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút ngày 15/3/2023 đến 00 giờ 10 phút ngày 16/3/2023, tại nhà ở của Phùng Tố Ng, các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh đã cùng thống nhất và thực hiện hành vi Đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “liêng” sát phạt nhau bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 6.000.000 đồng. Từ đó đã có đủ căn cứ khẳng định các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc Gá bạc; Đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi trên đây của các bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tất cả các bị cáo đều “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự

- Các bị cáo Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh, Phùng Minh Ngh “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Bị cáo Phùng Tố Ng có thêm tình tiết giảm nhẹ "Cha đẻ là người có công với nhà nước" được tặng thưởng Huân chương kháng chiến quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo Phùng Minh Ngh có anh ruột (Phùng Quang O) là liệt sỹ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trần Văn Kh năm 2022 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tặng Giấy khen vì có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an tinh Tổ quốc” là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đào Duy Th trong quá trình điều tra, đã phát hiện và cung cấp thông tin cho cơ quan CSĐT Công an huyện MCCh về người đang bị truy tìm để Công an huyện MCCh bắt tạm giam phục vụ công tác điều tra (bị can Vàng A D) nên có thêm tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, xét về cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm, tội phạm thấy rằng:

Đối với tội Gá Bạc, xác định có duy nhất một mình bị cáo Nga thực hiện tội phạm, không có đồng phạm khác.

Đối với tội Đánh Bạc: Thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh đã cùng thống nhất và thực hiện hành vi Đánh bạc trái phép. Trong đó có bị cáo Đào Duy Th đã từng bị kết án về tội này, đến nay tuy không bị coi là có tiền án, nhưng sẽ phải chịu mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo còn lại; tiếp đến là các bị cáo T, Tuấn A; bị cáo Kh và bị cáo Ngh sẽ phải chịu mức hình phạt thấp hơn.

Về nhân thân;

Các bị cáo phần lớn đều không có tiền án, tiền sự. Riêng bị cáo Đào Duy Th tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/HSST/2014 ngày 29/12/2014 của Tòa án nhân dân thị xã Ngh L đã bị xử phạt bị cáo về tội Đánh bạc, hình phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong bản án nêu trên (đã chấp hành xong được 05 năm 09 tháng), từ sau khi chấp hành án xong đến nay không có vi phạm gì.

Từ những nhận xét, đánh giá về tính chất, mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải xử lý các bị cáo một cách nghiêm minh, với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện;

Đối với Bị cáo Phùng Tố Ng là người sử dụng địa điểm (nhà ở) thuộc quyền quản lý của mình để cho 09 người đánh bạc, với 02 chiếu bạc (01 chiếu số tiền đánh bạc đưới 5 triệu đồng); bị cáo Đào Duy Th đã từng bị kết án về tội đánh bạc đến nay đương nhiên xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với cả 2 bị cáo để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Đối với các bị cáo Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Trần Văn Kh và Phùng Minh Ngh, Hội đồng xét xử căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng Điều 35 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với các bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, nhưng cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

- Bị cáo Phùng Tố Ng thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

- Bị cáo Đào Duy Th là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

* Quá trình điều tra xác định tài sản không liên quan đến tội phạm nên cơ quan điều tra đã trả lại gồm: Trả lại cho Nguyễn Hữu N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu và 14.500.000 đồng; trả lại cho Nguyễn Thị Hồng Th 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 21K1.261.52, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone và 5.000.000 đồng; Vũ Xuân Ch 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu tím và 2.000.000 đồng; Mai Đức G 01 xe máy điện màu trắng; Phạm Minh Đ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 21V5-1089; trả lại cho Nguyễn Ngọc Q 01 chiếc điện thoại di động Iphone màu đen; Lò Văn H 01 xe mô tô biển kiểm soát 21L1-206.37; Đỗ Mạnh D 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 21K1-321.75; trả lại cho Nguyễn Thanh Ph 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan, biển kiểm soát 30G-63175.

Trả lại cho Trần Văn Kh 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE biển kiểm soát 21K1-035.22, 01 điện thoại di động Iphone màu đen; Trần Đình T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh; Đào Duy Th 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe AIRBLADE biển kiểm soát 29N1- 460.36; Lâm Tuấn A 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen; Phùng Minh Ngh 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, bàn phím bấm, 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại xe SUPERDREAM biển kiểm soát 21T1-8597; Phùng Tố Ng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone. Việc trả lại tài sản của cơ quan điều tra là phù hợp nên được chấp nhận.

* Đối với số vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án cần xử lý như sau:

- 02 chiếc thảm đã cũ, 02 bộ bài tú lơ khơ, 14 vỏ phong bì. Đây là công cụ mà các bị cáo dùng vào việc thực hiện tội phạm và không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Đối với số tiền thu giữ trong vụ án là 26.215.000 đồng. Xác định số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 10.235.000 đồng nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền tạm giữ của bị cáo Ngh là 10.400.000 đồng; bị cáo Th là 1.140.000 đồng; bị cáo Tuấn A 1.000.000 đồng; bị cáo Kh là 1.640.000 đồng; bị cáo T 1.000.000 đồng; bị cáo Ng 800.000 đồng. Trong số tiền thu giữ này có 400.000 đồng của bị cáo Ng là tiền thu lợi bất chính cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền còn lại không liên quan đến tội phạm cần trả lại cho các bị cáo

Các đối tượng và hành vi khác:

Trong vụ án này có Nguyễn Thị Hồng Th, Vũ Xuân Ch, Nguyễn Ngọc Q và Nguyễn Hữu N là những người tham gia đánh bạc, dưới hình thức đánh sâm, sát phạt nhau bằng tiền tại nhà của Phùng Tố Ng, nhưng tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 05 triệu đồng. Kết quả điều tra xác định hành vi của 04 người có tên nêu trên đều chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự nên Công an thị xã Ngh L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với họ là phù hợp.

Đối với Phạm Thị T, Mai Đức G và Phạm Minh Đ là những người có mặt tại nhà Phùng Tố Ng khi Công an bắt quả tang. Kết quả điều tra xác định 03 người có tên nêu trên chỉ đứng xem, không tham gia đánh bạc, gá bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ngh L không đề cập xử lý là phù hợp.

Về án phí:

Các bị cáo Phùng Tố Ng,Trần Đình T, Đào Duy Th, Lâm Tuấn A, Phùng Minh Ngh và Trần Văn Kh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phùng Tố Ng phạm tội Gá bạc;

Các bị cáo Đào Duy Th, Trần Đình Tùn, Lâm Tuấn A, Phùng Minh Ngh và Trần Văn Kh phạm tội “Đánh bạc”.

[2] Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Tố Ng 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm, tính từ ngày tuyên án là ngày 31/7/2023. Phạt tiền 20.000.000đ ( hai mươi triệu đồng).

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm s, u khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 65; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Duy Th 01 năm 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án là ngày 31/7/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Phùng Tố Ng cho Ủy ban nhân dân phường P Tr; Giao bị cáo Đào Duy Th cho Ủy ban nhân dân phường T A, thị xã Ngh L, tỉnh Yên Bái giám sát giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp các bị cáo Phùng Tố Ng, Đào Duy Th thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự 2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,

- Phạt tiền bị cáo Trần Đình T số tiền 25 triệu đồng;

- Phạt tiền bị cáo Lâm Tuấn A số tiền 25 triệu đồng;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự,

- Phạt tiền bị cáo Phùng Minh Ngh số tiền 20 triệu đồng;

- Phạt tiền bị cáo Trần Văn Kh số tiền 20 triệu đồng;

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự .

- Tịch thu tiêu hủy: 02 chiếc thảm đã cũ, 02 bộ bài tú lơ khơ, 14 vỏ phong bì đã mở niêm phong.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.635.000 đồng (mười triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

- Trả lại cho Phùng Tố Ng số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng);

- Trả lại cho Đào Duy Th số tiền 1.140.000 đồng (một triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng);

- Trả lại cho Trần Đình T số tiền 1000.000 đồng (một triệu đồng);

- Trả lại cho Trần Văn Kh số tiền 1.640.000 đồng (một triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng);

- Trả lại cho Lâm Tuấn A số tiền 1000.000 đồng (một triệu đồng);

- Trả lại cho Phùng Minh Ngh số tiền 10.400.000 đồng (mười triệu bốn trăm nghìn đồng).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 18/7/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ngh L và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ngh L).

[4] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Phùng Tố Ng, Đào Duy Th, Trần Đình T, Lâm Tuấn A, Phùng Minh Ngh và Trần Văn Kh mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ