vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022. Xử phạt bị cáo Đào Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Mạnh C và đồng phạm phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chât ma tuy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 25 tháng 4 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Duy Lục

2. Bà Vũ Thị Thanh Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2023/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Mạnh C, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1998; Trú tại: Thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 28/2012/HSPT ngày 07/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Mạnh C 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 30/8/2013 Cường đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

+ Tại bản án số 79/2014/HSST ngày 28/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Mạnh C 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ngày 08/02/2018 Cường đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/10/2022 đến ngày 12/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có mặt tại phiên tòa.

2. Đào Văn C, sinh ngày 12 tháng 01 năm 1998; Trú tại: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn B, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1979; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/10/2022 đến ngày 12/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Duy L, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2003; Trú tại: Thôn T, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1977 và bà Khổng Thị T, sinh năm 1982; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 03/10/2022 đến ngày 12/10/2022 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tam giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy L: Ông Phạm Duy B, sinh năm 1983 là Luật sư của văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tầng 6, nhà 74A, ngõ 116 N, phường N, quận T, thành phố Hà Nội. (Có mặt).

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Minh T, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn P, xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt);

Chị Hà Thị N, sinh năm 2002; Nơi ĐKHKTT: Thôn R, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Khu đô thị P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);

Chị Trần Thị L, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt);

Anh Đường Quang H, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);

Anh Phan Đăng C, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);

Chị Lê Thị B, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT: Thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở hiện nay: Khu đô thị P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);

Chị Quảng Thị H, sinh năm 2003; Địa chỉ: Xã M, huyện S, tỉnh Sơn La (Vắng mặt);

Anh Nguyễn Nhân H, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt);

Chị Đào Thị Lan A, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 03/10/2022, Đào Văn C, sinh năm 1998 trú tại xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc điều khiển xe mô tô BKS 88L1- 662.32 đi từ nhà mình đến quán karaoke X9, địa chỉ khu Trung tâm thương mại và nhà ở P, xã T, huyện V rủ Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1998, có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện M, thành phố Hà Nội, hiện đang làm nhân viên của quán karaoke X9 đi ăn sáng, Mạnh C đồng ý. Mạnh C cùng Đào Văn C đến quán ăn sáng ở giáp vòng xuyến ngã 5 thuộc thị trấn T. Khi đến nơi Đào Văn C rủ Nguyễn Duy L, sinh năm 2003, trú tại xã L, huyện Vĩnh Tường và Trần Minh T, sinh năm 1999, trú tại xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đến ăn sáng cùng. Mọi người ăn sáng đến khoảng gần 09 giờ 00 phút cùng ngày thì Mạnh C mệt nên mượn xe mô tô của T đi về quán karaoke X9 để nghỉ. Đến khoảng hơn 09 giờ 00 phút cùng ngày Đào Văn C, L, T ăn sáng xong và cùng nhau đi về quán karaoke X9 để Đào Văn C đưa bún cho Đặng Thị Thùy N, sinh năm 2001, hộ khẩu thường trú tại xã Đ, huyện V, tỉnh Hà Giang là nhân viên của quán karaoke X9. Khi đến quán, Đào Văn C đem bún lên cho N ở tầng 4 thì gặp Mạnh C ở tầng 3 và nhờ Mạnh C đem giúp bún lên hộ. Sau khi Mạnh C đưa bún cho N xong thì cùng Đào Văn C đi xuống gặp T, L đang ngồi đợi ở hành lang tầng 2. Tại đây Mạnh C nói: “Bây giờ như thế nào”, ý Mạnh C muốn hỏi Đào Văn C, L có muốn cùng nhau sử dụng số ma túy ketamine còn lại vào đêm ngày 02/10/2022 do Đào Văn C, Mạnh C, L và Đường Quang H, sinh năm 2003 ở xã L góp tiền mua được nhưng chưa sử dụng hết không (việc 04 người góp tiền mua được ma túy nhưng chưa sử dụng hết từ tối hôm trước thi T không biết), Đào Văn C hiểu ý nên nói: “Chơi như thế nào là thế nào”, Mạnh C hiểu ý Đào Văn C muốn hỏi xem sẽ sử dụng ma túy như thế nào, ở đâu nên trả lời: “Thế chúng mày có chơi không, còn chỉ hôm qua chơi nốt đi, cất làm gì”, L nói: “Hay ra nhà nghỉ chơi”, Mạnh C nói lại: “Mày ra thì ra, chơi thế chơi làm gì, ở đây lên bật nhạc”, ý Mạnh C muốn sử dụng ma túy tại phòng hát để có nhạc và có nhân viên, Đào Văn C nói: “Cãi nhau mãi, không chơi thì nghỉ”, Mạnh C nói: “Lấy phòng nào để mở”, Đào Văn C nói: “Vào ngay phòng 303”, ý Đào Văn C là tất cả mọi người sẽ vào phòng 303 để cùng nhau sử dụng ma túy. Tại đây, Mạnh C hỏi mọi người có sử dụng ma túy kẹo không để Mạnh C đi lấy thì mọi người đồng ý, Mạnh C bảo với Đào Văn C, L, T là tiền ma túy kẹo để Mạnh C đứng ra mua, ma túy ketamine thì còn thừa từ hôm trước nên sau khi hát, sử dụng ma túy xong tiền phòng hát hết bao nhiêu sẽ do Đào Văn C, L thanh toán, T được mời nên không phải trả tiền gì.

Sau khi thống nhất xong, Mạnh C cùng Đào Văn C, T, L đi vào phòng 303 của quán X9 để hát, Đào Văn C liên hệ với chị Lê Thị B, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú tại thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là quản lý quán X9 để gọi 02 nữ nhân viên lên phục vụ và chị B đồng ý. Một lúc sau, Mạnh C sử dụng số thuê bao 0971.917.401 được lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen đã cũ gọi đến số thuê bao 0964.113.236 của một người tên thường gọi là Bầu Bí hỏi mua 02 viên ma túy kẹo, Bầu Bí đồng ý bán với giá 400.000đ/viên và hẹn Mạnh C đến nhà nghỉ K ở khu trung tâm thương mại và nhà ở P, xã T để giao bán ma túy. Sau khi điện thoại xong, Mạnh C bảo Đào Văn C, L, T: “Để anh đi lấy kẹo”. Sau đó Mạnh C đi bộ một mình đến hành lang tầng 4 nhà nghỉ K gặp B, tại đây B đưa cho Mạnh C 02 viên ma túy kẹo hình tròn màu xám được gói bên ngoài bằng giấy vệ sinh, Mạnh C cầm 02 viên ma túy kẹo và bảo: “Tý về em chuyển khoản cho”, Bầu Bí đồng ý. Mạnh C cầm ma túy đi về quán karaoke X9, trên đường đi Mạnh C dùng số tài khoản 1013923473 ngân hàng Vietcombank mang tên "NGUYEN MANH C" chuyển khoản cho B số tiền 800.000đ đến số tài khoản 105872461892 ngân hàng Viettinbank của B có tên chủ tài khoản là “PHAM NGOC T”.

Khi về đến hành lang tầng 3 của quán karaoke X9, Mạnh C nhìn thấy ở ghế ngồi kê tại hành lang có 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ do Mạnh C để đó từ trước nên cầm ống hút đem vào phòng 303 đặt lên chiếc đĩa sứ để ở trên loa gần cửa ra vào phòng 303, cạnh chiếc đĩa sứ có 01 chiếc thẻ nhựa, 01 bật lửa (đĩa sứ, thẻ nhựa và chiếc bật lửa trên do Mạnh C lấy từ phòng 304 mang sang sau khi sử dụng xong ma túy vào tối ngày 02/10/2022 với mục đích sau này sẽ xào, sử dụng ma túy ketamine) tiếp đó Mạnh C để 02 viên ma túy kẹo lên mặt bàn kính. Mạnh C lấy 01 viên kẹo giã nhỏ cho vào cốc thủy tinh, đổ nước Cocacola vào cho tan rồi uống hết nửa cốc, nửa cốc còn lại T tự đến lấy uống hết vào cơ thể. L lấy viên ma túy kẹo còn lại nghiền nhỏ ra cho vào cốc, Đào Văn C đổ nước Cocacola vào cốc đó rồi cùng nhau mỗi người sử dụng hết 01 nửa cốc. Sau khi sử dụng ma túy kẹo xong, Đào Văn C, Mạnh C, L, T ngồi nghe nhạc và tận hưởng cảm giác phê ma túy. Một lúc sau Mạnh C quay sang nói với Đào Văn C: “Ma túy đâu?”, Đào Văn C hiểu ý Mạnh C muốn hỏi số ma túy ketamine tối hôm trước còn thừa nhưng chưa sử dụng hết để ở đâu, Đào Văn C đi sang phòng 302 của quán lấy từ khe ghế sofa kê ở giáp cửa bên tay phải theo hướng từ cửa đi vào 01 túi ma túy ketamine mà Đào Văn C cất giấu từ trước. Đào Văn C quay lại phòng 303 đưa cho Mạnh C túi ma túy ketamine đó, Mạnh C hiểu đó là túi ma túy ketamine do Mạnh C, Đào Văn C, L, Huy góp tiền mua được chưa sử dụng hết vào đêm ngày 02/10/2022 (Huy không biết việc vẫn còn thừa 01 túi ma túy katemine đó) nên cầm đổ ra đĩa sử nhưng để lại một ít trong túi, số ma túy này Mạnh C cất vào trong ốp lưng điện thoại của Mạnh C với mục đích để sau này sẽ sử dụng. Lúc này Hà Thị N, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là nhân viên quán hát đi vào phòng. Sau đó, Mạnh C lấy chiếc bật lửa để sẵn ở trên bàn hơ nóng đáy đĩa và dùng thẻ nhựa dằm ma túy ketamine rồi xào cho chín, xào xong Mạnh C kẻ 04 đường nhỏ trước rồi dùng ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ hít hết 02 đường ma túy ketamine qua mũi vào cơ thể, tiếp đó L đến sử dụng hết 02 đường ma túy ketamine còn lại. Khi L sử dụng xong thì Mạnh C tiếp tục kẻ 04 đường nhỏ nữa, kẻ xong thì Đào Văn C, T lần lượt mỗi người đến sử dụng 02 đường. Mạnh C tiếp tục kẻ 01 phần trong số ma túy ketamine còn lại thành 02 đường nhỏ để có ai sử dụng thì sử dụng. Một lúc sau Ngọc tự đi đến sử dụng hết 01 đường kẻ nhỏ ma túy ketamine. Lúc này trên đĩa còn lại một ít ma túy nên Mạnh C đã lấy thẻ nhựa kẻ hết thành một đường rồi sử dụng hết số ma túy ketamine trên. Sau khi sử dụng ma túy xong thì Đào Văn C, L, T, Ngọc ngồi nghỉ ngơi tận hưởng cảm giác phê của ma túy còn Mạnh C đi ra hành lang tầng 3 ngồi ở ghế nghỉ ngơi. Một lúc sau, Trần Thị L, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang là nhân viên của quán karaoke X9 đi vào phòng hát, nghe nhạc cùng mọi người đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra.

Tang vật thu giữ gồm:

- Thu trên mặt bàn kính kê gần cửa ra vào phòng 303 quán karaoke X9 có:

+ 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, đáy đĩa bám dính chất màu đen (nghi bị lửa đốt), trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Tang vật được niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.

+ 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá, bên trong ống hút có bám dính chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A2.

+ 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ (loại thẻ gắn sim điện thoại đã tháo sim ra của hãng Viettel) trên thẻ có bám dính chất màu trắng (nghi là ma túy). Tang vật được niêm phong vào 01 phong bì thư theo đúng thủ tục pháp luật, ký hiệu A3.

+ 01 bật lửa gas đã qua sử dụng.

- Tạm giữ của Đào Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0328.906.396; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen đã cũ gắn BKS: 88L1- 662.32.

- Tạm giữ của Nguyễn Duy L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS Max màu vàng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0963.263.499; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã cũ gắn BKS: 88L1 - 688.81.

- Tạm giữ của Trần Minh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus màu vàng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0866.791.630, màn hình điện thoại bị bung, vỡ.

- Thu giữ của Nguyễn Mạnh C:

+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0971.917.401 cùng 01 chiếc ốp điện thoại màu xanh đã cũ.

+ 01 túi nilon không màu bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy ở bên trong chiếc ốp điện thoại nêu trên của Cường. Tang vật được niệm phong theo quy định của pháp luật, kỷ hiệu B1.

Ngày 03/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu vật ký hiệu B1 thu giữ được gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu B1.

Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có Bản kết luận giám định số 3003/KLGĐ - KTHS xác định:

Tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2756g (Không phảy hai bảy năm sáu gam, không kể bao bì) loại Ketamine.

Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn trả đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: B1 = 0,2400g mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “Mẫu trả 2911”, trên giáp lại có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường tống đạt kết luận giám định trên cho Nguyễn Mạnh C, Cường nhất trí với nội dung kết quả trưng cầu giám định, không có ý kiến thắc mắc gì.

Ngày 03/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định trưng cầu số 531, 532, 533 giám định mẫu vật ký hiệu A1, A2, A3 thu giữ được gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định mẫu vật gửi giám định có bám dính chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì, khối lượng của chất ma túy bám dính là bao nhiêu?

Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có các Bản kết luận giám định số 3004/KLGĐ, 3001/KLGĐ, 3002/KLGĐ, xác định: Tìm thấy chất ma túy Ketamine bám dính trên bề mặt đĩa sứ màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi đến giám định. Không xác định được khối lượng của mẫu gửi giám định do mẫu tồn tại ở dạng chất bám dính.

Tìm thấy chất ma túy Ketamine bám dính bên trong 01 ống hút của mẫu ký hiệu A2 gửi đến giám định. Không xác định được khối lượng của mẫu gửi giảm định do mẫu tồn tại ở dạng chất bám dính.

Tìm thấy chất ma túy Ketamine bám dính trên bề mặt thẻ nhựa cứng màu đỏ của mẫu ký hiệu A3 gửi đến giảm định. Không xác định được khối lượng của mẫu gửi giám định do mẫu tồn tại ở dạng chất bám dính.

Ngày 03/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp cùng Trạm y tế thị trấn V đã tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C, Nguyễn Duy L, Trần Thị Linh, Hà Thị Ngọc và Trần Minh T niêm phong theo quy định ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6 và ra Quyết định trưng cầu giám định số 535, 536, 537, 538, 539, 540 gửi Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc để giám định xác định xem trong mẫu nước tiểu của từng người có chất ma túy không, nếu có thì là loại ma túy gì.

Ngày 07/10/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc có các Bản kết luận giám định số 2986/KLGĐ, 2987/KLGĐ, 2988/KLGĐ, 3000/KLGĐ, 2990/KL - KTHS, 2991/KL - KTHS, xác định:

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ký hiệu M1 ghi là mẫu nước tiểu thu của Đào Văn C, SN: 1998, trú tại: xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ký hiệu M2 ghi là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Duy L, SN: 2003, trú tại: xã L, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.

Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng ký hiệu M3 ghi là mẫu nước tiểu thu của Trần Minh T, SN: 1999, HKTT: xã An Khang, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang gửi đến giám định.

Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Trần Thị Linh, SN: 1997, trú tại: xã Hào Phú, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ký hiệu M4 gửi giám định.

Không phát hiện thành phần chất ma túy (Morphine, MDMA, Methamphetamine, Delta-9-tetrahidrocanabinol và Ketamine) trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là nước tiểu thu của Hà Thị Ngọc, SN: 2002, trú tại: xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa được niêm phong trong chai nhựa ký hiệu MS gửi giám định.

Tìm thấy MDMA và Ketamine trong mẫu chất lỏng màu vàng nhạt ghi là mẫu nước tiểu của Nguyễn Mạnh C, SN: 1998, trú tại: xã Kim Hoa, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội được niêm phong trong chai nhựa ký hiệu M6 gửi giám định.

MDMA là chất ma tủy nằm trong Danh mục IB, TT 11, Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, TT 40 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã hoàn lại các đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,00ml và toàn bộ bao gói được niêm phong dán kín phần nắp chai, trên giấy niêm phong có chữ ký, chữ viết của người tham gia đóng gói niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Ngày 13/10/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường có công văn số 671 gửi Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc làm rõ nội dung: Tại Cơ quan điều tra đối tượng Hà Thị Ngọc khai nhận có sử dụng ma túy Ketamine tại phòng 303 quán karaoke X9 vào khoảng thời gian từ sau 10 giờ đến 12 giờ ngày 03/10/2022. Tuy nhiên tại kết luận giám định số 2990/KLGĐ ngày 07/10/2022, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác định không phát hiện thấy thành phần chất ma túy trong mẫu nước tiểu thu được của Hà Thị Ngọc. Ngày 17/10/2022 Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Vĩnh Phúc có Công văn số 285/CV – KTHS giải thích kết luận: Chất ma túy khi được lạm dụng, sử dụng đưa vào cơ thể bằng các phương thức khác nhau, sau đó theo máu vận chuyển khắp cơ thể, kích thích lên hệ thần kinh trung ương, đồng thời được chuyển hóa và đào thải qua các tuyến bài tiết như nước bọt, mồ hôi, nước tiểu, phân .v.v..Lượng chất ma túy còn lại trong cơ thể phụ thuộc vào liều lượng đưa vào cơ thể, mức độ chuyển hóa đào thải, cũng như thời điểm thu mẫu, thể trạng, cơ địa và tác động từ sinh hoạt của mỗi người. Nên việc qua giám định không phát hiện chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Hà Thị Ngọc là khách quan, phù hợp.

Về nguồn gốc số ma túy Ketamine quá trình điều tra xác định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/10/2022, khi Mạnh C đang ở tầng 3 quán karaoke X9 thì gặp Huy, Đào Văn C, L đi lên, tại đây cả 4 người đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất việc mỗi người sẽ góp khoảng 1.100.000đ để mua 02 chỉ ma túy ketamine và 01 viên ma túy kẹo với mục đích để sử dụng, toàn bộ số tiền này sẽ đưa cho Mạnh C cầm để Mạnh C liên hệ mua ma túy. Do lúc này L không đem theo tiền mặt và chỉ còn 800.000đ trong tài khoản nên L bảo với Đào Văn C: “Em chỉ còn có tám trăm nghìn đồng, anh lo nốt cho em”, Đào Văn C đồng ý và bảo L chuyển khoản 800.000đ cho Đào Văn C để Đào Văn C đưa tiền mặt cho Mạnh C. Sau đó L chuyển khoản cho Đào Văn C số tiền 800.000đ vào số tài khoản 0361000360055 ngân hàng Vietcombank của Đào Văn C, Huy cũng không có tiền nên nhờ Đào Văn C ứng tiền ra, sau này Huy sẽ gửi lại tiền thì Đào Văn C đồng ý. Sau đó, Đào Văn C đưa cho Mạnh C số tiền 3.200.000đ là số tiền Đào Văn C, Huy, L góp, còn Mạnh C chỉ có 700.000đ để góp cùng.

Cùng lúc đó tại phòng 304 quán karaoke X9 có Phan Đăng C, sinh năm 2001, Đường Văn H, sinh năm 2000, đều ở xã L, huyện V là bạn của Huy, L, Đào Văn C nên H, Đào Văn C, L, Mạnh C rủ nhau vào hát cùng để không phải thuê phòng hát. Ngoài ra trong phòng còn có 02 nữ nhân viên của quán karaoke X9 là Trần Thị L, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Quảng Thị H, sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú tại xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Sau khi đã góp đủ tiền, Mạnh C sử dụng số điện thoại 0971.917.401 gọi đến số điện thoại 0357.283.711 của một người tên Trường để hỏi mua của Trường 02 chỉ ma túy ketamine với giá 1.800.000đ/chi; 01 viên ma túy kẹo với giá 300.000đ, tổng số tiền mua ma túy là 3.900.000đ Trường đồng ý và nói sẽ đem ma túy đến trước cửa quán karaoke X9 để giao cho Mạnh C. Một lúc sau, Mạnh C gọi lại cho Trường thì Trường bảo xuống lấy ma túy, có người đem đến; Mạnh C đi xuống thì gặp 01 nam thanh niên không phải là Trường có đặc điểm khoảng 20 tuổi, dáng người gầy, đi xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave. Tại đây Mạnh C đưa cho nam thanh niên đó số tiền 3.900.000đ và nhận lại từ nam thanh niên đó 02 túi ma túy ketamine và 01 viên ma túy kẹo. Sau đó, Mạnh C đem số ma túy vừa mua được vào phòng 304 quán karaoke X9 để sau khi mọi người về hết thì Mạnh C, L, Đào Văn C, H sẽ sử dụng. Khi L, H về phòng nghỉ thì Mạnh C pha viên ma túy kẹo vào cốc nước Cocacola, sau đó Mạnh C và Đào Văn C, L cùng nhau sử dụng bằng hình thức uống trực tiếp vào cơ thể, còn H không sử dụng ma túy kẹo. Sau khi sử dụng ma túy kẹo xong Mạnh C đi tìm dụng cụ để xào, sử dụng ma túy ketamine thì thấy trên mặt loa kê ở trong phòng gần cửa ra vào có 01 đĩa sứ màu trắng, trên mặt đĩa có 01 thẻ nhựa, 01 bật lửa và 01 ống hút được cuộn dọc bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ. Thấy vậy, Mạnh C cầm xuống cuối phòng và lấy 01 túi ma túy ketamine ra xào chín rồi cùng với H, Đào Văn C, L sử dụng hết, còn Phan Cường và Hoàn không sử dụng ma túy. Sau đó, Mạnh C cất đĩa sứ cùng thẻ nhựa, bật lửa sang phòng 303, để ống hút được cuộn dọc bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ ở ghế kê tại hàng lang tầng 3 với mục đích sau này sẽ xào, sử dụng ma túy ketamine tiếp. Do chỉ sử dụng hết 01 túi ma túy ketamine nên Đào Văn C đã cầm 01 túi ma túy ketamine còn lại đem cất giấu vào khe ghế sofa kê ở bên tay phải theo hướng từ cửa đi vào trong phòng hát 302 của quán với mục đích sẽ sử dụng. Sau khi cất số ma túy trên thì Mạnh C và L biết nhưng cụ thể cất giấu ở đâu thì Đào Văn C không nói, còn Huy thì không biết việc Đào Văn C cất giấu ma túy như trên nên vẫn nghĩ số ma túy ketamine mà H cùng mọi người góp tiền mua được đã sử dụng hết. Mọi người hát đến gần 02 giờ 00 phút ngày 03/10/2022 thì L, H và Đào Văn C đi về, Mạnh C cũng về phòng nghỉ, còn Hoàn và Phan Cường về sau cùng.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS-VT ngày 10 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai phù hợp với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 08 năm tù đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Xử phạt bị cáo Đào Văn C từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng vì các bị cáo không có tài sản, thu nhập. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Duy L trình bày ý kiến bào chữa: Đồng ý với tội danh, điều luật áp dụng mà Viện kiển sát đề nghị đối với bị cáo Nguyễn Duy L. Qua phân tích tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, bối cảnh thực hiện hành vi, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò tham gia trong vụ án của bị cáo Nguyễn Duy L đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Duy L được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, cụ thể người bào chữa đề nghị áp dụng hình phạt đối với Nguyễn Duy L là từ 48 tháng tù đến 54 tháng tù để tạo điều kiện cho bị cáo L sau khi thực hiện Bản án sớm được trở về với gia đình, trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với người bào chữa cho bị cáo L và đề nghị giữ nguyên quan điểm như bản luận tội.

Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến kiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, các bị cáo khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng hơn 09 giờ 00 phút ngày 03/10/2022 tại quán karaoke X9 thuộc trung tâm thương mại và nhà ở P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, Đào Văn C, sinh năm 1998, Nguyễn Duy L, sinh năm 2003 đều trú tại xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1998, có hộ khẩu thường trú tại xã K, huyện M, thành phố Hà Nội cùng nhau thống nhất thuê phòng hát 303 của quán Karaoke X9 để sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời rủ Trần Minh T, sinh năm 1999, trú tại xã A, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang sử dụng ma túy cùng. Do ma túy ketamine các đối tượng trên góp tiền mua vào tối ngày 02/10/2022 sử dụng vẫn còn nên Nguyễn Mạnh C đã mua thêm 02 viên ma túy kẹo trị giá 800.000đ, Đào Văn C gọi thêm 02 nhân viên quán hát rồi tất cả cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng 303 quán Karaoke X9. Mạnh C đã chuẩn bị ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ, 01 chiếc đĩa sứ, 01 chiếc thẻ nhựa, 01 bật lửa. Mạnh C pha 01 viên ma túy kẹo vào cốc nước Cocacola rồi cùng T uống hết. L và Đào Văn C sử dụng hết 01 viên ma túy kẹo còn lại. Sau đó Nguyễn Mạnh C trực tiếp xào ma túy ketamine rồi cùng Đào Văn C, Nguyễn Duy L, Trần Minh T và Hà Thị N, sinh năm 2002, hộ khẩu thường trú tại xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là nhân viên quán hát cùng nhau sử dụng hết số ma túy trên. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày thì Công an huyện Vĩnh Tường kiểm tra, quá trình kiểm tra thu giữ: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng; 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ (loại thẻ gắn sim điện thoại đã tháo sim ra của hãng Viettel); 01 bật lửa gas đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen đã cũ gắn BKS: 88L1-662.32; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã cũ gắn BKS: 88L1-688.81; 01 túi nilon không màu bên trong chứa 0,2756g ma túy Ketamine ở bên trong chiếc ốp điện thoại của Nguyễn Mạnh C; 04 điện thoại di động các loại. Tại các bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác định trong mẫu nước tiểu của Trần Minh T tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine; Mẫu nước tiểu của Hà Thị N không phát hiện thành phần chất ma túy. Tuy nhiên quá trình điều tra, Ngọc và các đối tượng khai nhận Ngọc có sử dụng ma túy Ketamine do Nguyễn Mạnh C xào tại phòng 303 quán karaoke X9 ngày 03/10/2022. Sau khi bị phát hiện hành vi sử dụng chất ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp với Trạm y tế thị trấn Vĩnh Tường đã thu mẫu nước tiểu của Ngọc làm xét nghiệm xác định trong mẫu nước tiểu của Ngọc có ma túy. Vì vậy có đủ căn cứ để xác định ngày 03/10/2023 tại phòng 303 quán karaoke X9 thuộc địa phân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L có hành vi tổ chức cho Trần Minh T và Hà Thị N sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi trên của Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) ….

b) Đối với 02 người trở lên”

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như vị trí, vai trò của từng bị cáo:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C là người có nhân thân xấu, đã có 02 lần bị đưa ra xét xử: Tại bản án số 28/2012/HSPT ngày 07/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Mạnh C 02 năm 06 tháng tù về tội Cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999; Tại bản án số 79/2014/HSST ngày 28/5/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Nguyễn Mạnh C 05 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên khi bị cáo thực hiện hành vi vi phạm pháp luật bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức còn hạn chế, đến nay bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo, do vậy cần phải xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C một mức án thật nghiêm khắc, có như vậy mới đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, biết chấp hành pháp luật.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là thành khẩn khai báo; Các bị cáo Đào Văn C và Nguyễn Duy L đều là người phạm tội lần đầu, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Duy L là đoàn viên Thanh niên cộng sản HCM đã tình nguyện tham gia phòng chống dịch covid trên địa bàn xã L, được chính quyền xã xác nhận, gia đình bị cáo Nguyễn Duy L có bà nội là Chu Thị L được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đào Văn C có ông nội là Đào Xuân Hải được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang vì đã làm tròn nhiệm vụ phục vụ trong quân đội nhân dân Việt Nam. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo Đào Văn C và Nguyễn Duy L một phần khi quyết định hình phạt.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo như người bào chữa đề nghị áp dụng cho Nguyễn Duy L theo quy định tại điểm t, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là chưa phù hợp bởi lẽ: Nguyễn Duy L tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong việc khai báo hành vi phạm tội của bản thân đã được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án”; Nguyễn Duy L có giấy xác nhận của UBND xã L về việc tích cực tham gia phòng chống dịch, không phải thuộc trường hợp có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vai trò của từng bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm, trong đó Nguyễn Mạnh C là người rủ Đào Văn C, Nguyễn Duy L tổ chức sử dụng ma túy tại phòng 303 quán karaoke X9, trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để xào ma túy, pha ma túy kẹo để cùng T sử dụng, xào ma túy Ketamine cho Đào Văn C, Nguyễn Duy L, Trần Minh T, Hà Thị N và bản thân sử dụng. Vì vậy Nguyễn Mạnh C giữ vai trò chủ mưu, khởi xướng, rủ rê các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đào Văn C là người gọi nhân viên lên hát và sử dụng ma túy nên giữ vai trò người thực hành, thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tích cực; Nguyễn Duy L là người chỉ góp tiền để cùng Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C mua ma túy về sử dụng, bản thân L thấy những người khác đến cùng sử dụng chất ma túy nhưng không can ngăn mà đồng ý cho cùng sử dụng nên đã trở thành đồng phạm với các bị cáo Nguyễn Mạnh C và Đào Văn C về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; hành vi của L thực hiện được xác định với vai trò thứ yếu, giúp sức không đáng kể. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét để cho Nguyễn Duy L được hưởng mức hình phạt phù hợp với vai trò phạm tội của từng bị cáo để đảm bảo sự công bằng và tính răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo: Từ những phân tích trên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với Nguyễn Mạnh C là người giữ vai trò chính, sau đó là đến bị cáo Đào Văn C là người chủ động, rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Đối với bị cáo Nguyễn Duy L là người phạm tội lần đầu, giúp sức với vai trò không đáng kể như đã phân tích nêu trên nên cần xem xét cho hưởng mức hình phạt thấp nhất theo quy định của pháp luật. Về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản, thu nhập vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với Trần Minh T là người được Mạnh C, Đào Văn C, L tổ chức cho sử dụng ma túy tại phòng 303 quán karaoke X9 ngày 03/10/2022. Khi Mạnh C, Đào Văn C, L cùng rủ nhau tổ chức sử dụng trái phép tại quán Karaoke X9 thì T có biết và T được Mạnh C, Đào Văn C, L mời vào sử dụng ma túy. T không phải đóng góp bất cứ khoản tiền nào để được sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định T không tham gia, không giúp sức, không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo; T khai nhận rõ hành vi sử dụng ma túy vào ngày 03/10/2022. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T trên về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với Hà Thị N là nhân viên quán hát được Mạnh C, Đào Văn C, L tổ chức cho sử dụng ma túy tại phòng 303 quán karaoke X9 ngày 03/10/2022. Quá trình điều tra xác định N không tham gia, không giúp sức, không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo; N khai nhận có sử dụng ma túy Ketamine do Nguyễn Mạnh C xào tại phòng 303 quán karaoke X9 ngày 03/10/2022. Sau khi bị phát hiện hành vi sử dụng chất ma túy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường phối hợp với Trạm y tế thị trấn Vĩnh Tường đã thu mẫu nước tiểu của N làm xét nghiệm xác định trong mẫu nước tiểu của N có ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật.

Đối với Trần Thị L, quá trình điều tra xác định L không tham gia, không giúp sức, không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của những người trong phòng 303 quán karaoke X9 vào ngày 03/10/2022. Tuy nhiên, Linh khai nhận trước đó có hành vi sử dụng ma túy kẹo vào ngày 30/9/2022 ở nhà trọ của một người bạn tên là H xã L, nhưng L không nhớ tên tuổi của người này cũng như địa chỉ cụ thể của nhà trọ mà L đã sử dụng ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông tên H là bạn của Trần Thị L, L khai đã sử dụng ma túy cùng H vào tối ngày 30/9/2022 tại phòng trọ của H ở xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh trên địa bàn xã L người thanh niên tên H trên nhưng chưa xác minh làm rõ được. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Đường Quang H, quá trình điều tra xác định vào tối ngày 02/10/2022 H đã góp tiền cùng với Mạnh C, Đào Văn C, L mua ma túy về cùng nhau sử dụng và không liên quan gì đến hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo vào ngày 03/10/2022. Trong quá trình sử dụng ma túy ngày 02/10/2022 Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C, L, H đã sử dụng hết một phần ma túy, số ma túy ketamine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ được của Mạnh C là 0,2756g nên không xác định được cụ thể trọng lượng ma túy mà Mạnh C, Đào Văn C, L, H góp tiền mua để sử dụng vào ngày 02/10/2022. Bản thân H chưa có tiền án tiền sự về tội ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với Huy về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H là có căn cứ.

Đối với bà Lê Thị B là quản lý quán karaoke X9. Quá trình điều tra xác định việc các đối tượng có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 304 vào đêm ngày 02, rạng sáng ngày 03/10/2022 và hành vi sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 303 quán karaoke X9 vào ngày 03/10/2022 thì bà Bắc không biết, không liên quan gì; Quá trình hoạt động kinh doanh thì bà B chưa được cơ quan chức năng có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự. Hành vi trên đã vi phạm về hoạt động kinh doanh ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự khi chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự; Người được giao quản lý cơ sở hoạt động kinh doanh karaoke để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong cơ sở do mình quản lý; Kinh doanh dịch vụ karaoke ngoài khoảng thời gian từ 08 giờ đến 24 giờ mỗi ngày. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường để đề nghị UBND huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bà B theo quy định pháp luật.

Đối với nam thanh niên tên T có số điện thoại 0357.283.711 là người mà Mạnh C khai mua được ma túy kẹo, ketamine và nam thanh niên đã đem ma túy đến đưa cho Mạnh C ở khu vực trước cửa quán karaoke X9 vào đêm ngày 02/10/2022. Quá trình điều tra chưa xác định được T và người đưa ma túy cho Mạnh C là ai, ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã xác định chủ số thuê bao trên tên là Chi nhánh công ty TNHH thương mại dịch vụ viễn thông H, địa chỉ: Phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Do vậy, ngày 15/12/2022 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định ủy thác điều tra gửi đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương để xác minh số điện thoại trên, tuy nhiên đến nay chưa xác định được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với nam thanh niên tên là B là người mà Mạnh C khai mua được ma túy kẹo vào ngày 03/10/2022 ở nhà nghỉ Kim Anh và chuyển khoản cho Bầu Bí số tiền 800.000đ. Quá trình điều tra xác định được người có số tài khoản mà Mạnh C đã chuyển tiền là anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1992, trú tại thôn C, xã A, huyện V. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường đã triệu tập anh T nhiều lần nhưng chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với số điện thoại 0964.113.236 Mạnh C khai của người thanh niên tên B dùng để liên lạc mua ma túy với C. Quá trình làm việc với Chi nhánh Viettel Vĩnh Phúc thuộc Tập Đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Chi nhánh Vĩnh Phúc cung cấp không nhận được kết quả nào liên quan đến số điện thoại 0964.113.236 của Ban thanh tra - Kiểm toán thuộc tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Tường không có căn cứ giải quyết.

Đối với Đường Văn H và Phan Đăng C là người tham gia hát tại phòng 304 quán karaoke X9 ngày 02/10/2022. Quá trình điều tra xác định C không biết, không liên quan gì đến việc góp tiền mua và sử dụng trái phép chất ma túy của Đào Văn C, Mạnh C, L, Huy vào đêm ngày 02 rạng sáng ngày 03/10/2022; còn H đã đi xuất khẩu lao động nên cơ quan điều tra chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Cường và tiếp tục tiến hành điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý H theo quy định pháp luật.

Đối với Quảng Thị H là nhân viên quán hát. Quá trình điều tra xác định H không liên quan gì đến hành vi sử dụng ma túy của Đào Văn C, Mạnh C, H, L vào đêm ngày 02 rạng sáng ngày 03/10/2022 tại phòng 303 quán Karaoke X9 do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Nguyễn Mạnh C còn có hành vi Tàng trữ trái phép 0,2756g chất ma túy ketamine vào ngày 03/10/2022 và Sử dụng trái phép chất ma túy ngày 02/10/2022. Do trọng lượng ma túy chưa đủ để cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bản thân Cường chưa có tiền án tiền sự về tội ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với Đào Văn C, Nguyễn Duy L, quá trình điều tra xác định vào tối ngày 02/10/2022 Đào Văn C, L đã góp tiền cùng với Mạnh C, H mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Trong quá trình sử dụng ma túy ngày 02/10/2022 Mạnh C, Đào Văn C, L, H đã sử dụng một phần ma túy, số ma túy ketamine còn lại Cơ quan điều tra thu giữ được của Mạnh C là 0,2756g nên không xác định được cụ thể trọng lượng ma túy mà Mạnh C, Đào Văn C, L, H góp tiền mua để sử dụng, bản thân Đào Văn C, Nguyễn Duy L chưa có tiền án tiền sự về tội ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý hình sự đối với C, L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Vĩnh Tường ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Văn C và Nguyễn Duy L là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0328.906.396 tạm giữ của Đào Văn C. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của C, C sử dụng vào việc liên lạc với L để cùng nhau đi hát và sử dụng ma túy vào ngày 02/10/2022 nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Nokia Đường Quang H dùng liên lạc rủ L đi hát và sử dụng ma túy. Sau khi sự việc xảy ra H đã làm rơi mất chiếc điện thoại trên, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen đã cũ gắn BKS: 88L1-662.32 tạm giữ của Đào Văn C. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đó là của anh Nguyễn Nhân H, sinh năm 2003 ở xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vào buổi sáng ngày 03/10/2022, Đào Văn C mượn chiếc xe trên của anh H để đi ăn sáng, sau đó đi đến quán karaoke X9. Việc Đào Văn C sử dụng chiếc xe trên của anh H đi đến quán karaoke X9 để hát, sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì anh H không biết, không liên quan gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh H, nhận lại tài sản anh H không có đề nghị gì.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS Max màu vàng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0963.263.499 tạm giữ của Nguyễn Duy L. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của L, L đã sử dụng chuyển khoản số tiền 800.000đ cho Đào Văn C để mua ma túy sử dụng và dùng để liên lạc với Đào Văn C và Đường Quang H cùng nhau đi sử dụng ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ đã cũ gắn BKS: 88L1- 688.81 tạm giữ của Nguyễn Duy L. Quá trình điều tra xác định chiếc xe đó là của chị Đào Thị Lan A, sinh năm 2003 ở xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Vào buổi sáng ngày 03/10/2022, L mượn chiếc xe trên của chị A để đi ăn sáng, sau đó đi đến quán karaoke X9 hát và sử dụng ma túy. Việc L sử dụng chiếc xe trên của chị A đi đến quán karaoke X9 để hát, sử dụng và tổ chức sử dụng ma túy thì chị A không biết, không liên quan gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị A, nhận lại tài sản chị A không đề nghị gì.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 6S Plus màu vàng đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0866.791.630 tạm giữ của Trần Minh T. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của T, T không sử dụng chiếc điện thoại trên vào việc tổ chức sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T theo quy định, nhận lại tài sản T không đề nghị gì.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen đã cũ bên trong lắp sim thuê bao 0971.917.401 cùng 01 chiếc ốp điện thoại màu xanh đã cũ thu giữ của Mạnh C. Quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của Mạnh C, Mạnh C đã sử dụng để liên hệ hỏi mua ma túy và chuyển khoản tiền mua ma túy nên cần tịch thu phát mại sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ (loại thẻ gắn sim điện thoại đã tháo sim ra của hãng Viettel), 01 bật lửa gas màu đỏ thu giữ trong phòng 303 quán karaoke X9. Quá trình điều tra xác định đó là dụng cụ mà các đối tượng đã dùng để sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 03/10/2022 nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ giữ cố định bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá thu giữ trong phòng 303 quán karaoke X9. Quá trình điều tra xác định đây là chiếc ống hút Nguyễn Mạnh C lấy được ở trên ghế tại hành lang tầng 3 quán karaoke X9 để sử dụng làm ống hút ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định.

Sim thuê bao 0328.906.396 tạm giữ của Đào Văn C; sim thuê bao 0963.263.499 tạm giữ của Nguyễn Duy L; sim thuê bao 0971.917.401 thu giữ của Mạnh C không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Số tiền 800.000đ Nguyễn Duy L chuyển khoản cho Đào Văn C để góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng nên cần truy thu của Đào Văn C số tiền 800.000đ trên.

Đối với mẫu vật và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Xử phạt bị cáo Đào Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 03/10/2022.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Truy thu của Đào Văn C số tiền 800.000đồng sung vào Ngân sách Nhà nước;

Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách Nhà nước các tài sản mà các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS màu đen đã cũ của Đào Văn C; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone XS Max màu vàng đã cũ của Nguyễn Duy L; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple loại Iphone 7 Plus màu đen đã cũ cùng 01 chiếc ốp điện thoại màu xanh đã cũ của Mạnh C; 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000đ.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc đĩa sứ hình tròn màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu đỏ, 01 bật lửa gas màu đỏ;

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật và toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả lại sau giám định (Toàn bộ vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/02/2023 giữa Công an huyện Vĩnh Tường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh C, Đào Văn C và Nguyễn Duy L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ