vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 31/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Minh C 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 03/6/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 điếu cày bằng tre, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 phong bì dán kín hoàn lại sau giám định số 4041/C09(TT2) mẫu vật hoàn lại sau giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh C - Tổ chức SD trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Minh C 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 03/6/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ơ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số:42/2023/HS-ST
Ngày: 31/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đàm Nhân Trác

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Việt Long

2. Ông Phạm Xuân Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.

- Tại điểm cầu thành phần: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS, ngày 12 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 42/2023/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Minh C, sinh năm 2003. Tên gọi khác: Không. Nơi cƣ trú: Thôn Lạc D, xã Hƣng Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Văn T và bà Phan Thị P. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giam từ ngày 03/6/2023 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải

Dƣơng đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Văn C, sinh năm 1998; Trú tại: Thôn Lạc Dục, xã Hƣng Đạo, huyện Tứ Kỳ. Vắng mặt.

- Người chứng kiến:

Anh Ngô Toàn T, sinh năm 2001;

Anh Phạm Văn T, sinh năm 1998;

Anh Nguyễn Việt B, sinh năm 2000;

Đều vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Phạm Minh C là ngƣời sử dụng ma tuý, ngày 24/5/2023, Phạm Minh C đến khu vực huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội gặp và mua của một nam thanh niên không rõ tên, địa chỉ 01 túi nilon kích thƣớc 4x8cm, bên trong chứa sợi thực vật khô màu nâu là ma tuý, loại cần sa với giá 450.000đ. Sau khi mua đƣợc ma tuý, Chiến mang về nhà ở thôn Lạc Dục, xã Hƣng Đạo cất giấu, mục đích để sử dụng. Khoảng 20 giờ ngày 28/5/2023, Chiến mang túi ma tuý đến khu vực lề đƣờng trƣớc cửa quán cắt tóc của anh Phạm Văn C để sử dụng. Nhìn thấy có 01 điếu cày bằng tre và chiếc bật lửa của anh Cảnh để cho khách cắt tóc hút thuốc lào nên Chiến lấy cần sa từ trong túi nilon ra cho vào nõ điếu rồi dùng bật lửa có sẵn, bật lửa châm và dùng miệng hút khói vào cơ thể. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Ngô Toàn T và anh Phạm Văn T là ngƣời quen biết với Chiến đến ngồi chơi ở vỉa hè trƣớc cửa quán cắt tóc của anh Cảnh. Lúc này, Chiến tiếp tục lấy ma tuý từ trong túi nilon ra cho vào nõ điếu và bảo anh Thắng, anh Tuấn cùng sử dụng, anh Tuấn đồng ý. Chiến đƣa điếu cày đã bỏ ma tuý là cần sa dạng sợi vào nõ điếu cho Tuấn sử dụng, Tuấn cầm điếu cày dùng bật lửa châm đốt cần sa trong nõ điếu và dùng miệng hút khói vào cơ thể. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ phối hợp với Công an xã Hƣng Đạo kiểm tra phát hiện Tuấn và Chiến có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, nên đã lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 điếu cày bằng tre, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 túi nilon bên trong có chứa thực vật màu nâu là ma tuý loại cần sa còn lại sau khi Chiến, Tuấn sử dụng.

Kết quả xét nghiệm ngày 29/5/2023, Phạm Minh C, Phạm Văn T đều dƣơng tính với chất ma tuý loại THC (Cần sa).

Tại Kết luận giám định số 4041/KL-KTHS ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Viện khoa học hình sự - Bộ công an kết luận: Mẫu thực vật màu nâu gửi giám định là cần sa, khối lƣợng mẫu 0,146g.

Tại bản cáo trạng số 46/CT-VKSTK ngày 11 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Phạm Minh C ra trƣớc tòa để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và

đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 của Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS. Tuyên bố bị cáo Phạm Minh C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Minh C từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam 03/6/2023.Vật chứng tịch thu cho tiêu huỷ. Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên;

Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung biên bản làm việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, tại khu vực vỉa hè trƣớc cửa quán cắt tóc của anh Phạm Văn C thuộc thôn Ô Mễ, xã Hƣng Đạo, Phạm Minh C có hành vi cung cấp ma tuý dạng sợi (cần sa) cho Phạm Văn T sử dụng thì bị tổ công tác thuộc cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra phát hiện lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng.

Bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ đƣợc hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo Chiến có hành vi mua ma tuý là cần sa và rủ Tuấn cùng sử dụng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của BLHS. VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo ra trƣớc toà để xét xử với tội danh trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những

xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức đƣợc ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính ngƣời sử dụng mà và còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhƣng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thƣờng pháp luật, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm trƣớc pháp luật.

Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật, song vẫn cần thiết buộc phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy, nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 điếu cày bằng tre, 01 bật lửa ga màu xanh của anh Phạm Văn C, anh Cảnh không có nhu cầu nhận lại; 01 phong bì dán kín hoàn lại sau giám định số 4041/C09(TT2) mẫu vật hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với ngƣời bán ma túy cho Phạm Minh C, quá trình điều tra không làm rõ đƣợc, nên không có căn cứ để xử lý. Đối với hành vi tàng trữ ma tuý của Phạm Minh C và hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Minh C và Phạm Văn T đã đƣợc cơ quan Công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh C phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Minh C 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 03/6/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu cho tiêu huỷ 01 điếu cày bằng tre, 01 bật lửa ga màu xanh, 01 phong bì dán kín hoàn lại sau giám định số 4041/C09(TT2) mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 14/7/2023).

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Minh C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản sao bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ