vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 30/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trương Quang Tr 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2022. Xử phạt: Mai Xuân Tr 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 30 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế

Ông Vũ Văn Doãn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện H tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1.Bị cáo: Trương Quang Tr - sinh ngày 15/02/2001, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn Th; con bà: Mai Thị V; chưa có vợ, con, tiền án: Không, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2022 đến ngày 28/12/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

2. Bị cáo: La Văn S- sinh năm 1995, tại xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKNKTT: Thôn H, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: La Văn D; con bà: Vũ Thị Y; chưa có vợ và con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2022 đến ngày 28/12/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

3. Bị cáo: Mai Xuân Tr - sinh năm 1987, tại thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã Th, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mai Xuân V (đã chết); con bà: Lê Thị O; có vợ là Đỗ Thị T và có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2022 đến ngày 28/12/2022 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Khổng Thị Thu H, sinh ngày 11/10/2002,

Trú tại: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt)

Người làm chứng:

1. Lê Hoàng Q- sinh năm 1986,

Trú tại: Thôn H, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt)

2. Anh Bùi Văn T- sinh năm 1977, (chủ nhà trọ Yến Anh)

Trú tại: Khu Tr, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, (vắng mặt)

3. Vi Thị Bảo Nh – sinh ngày 13/3/2008

Trú tại: Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An,

Người đại diện: Ông Vi Văn N - sinh năm 1979 (cha đẻ),(vắng mặt)

Trú tại: Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

La Văn S thuê phòng trọ tại nhà trọ Yến Anh của gia đình anh Bùi Văn T, sinh năm 1977, cư trú ở Số 12, Ngõ 59, đường Bà Triệu, khu Tr, thị trấn H, huyện Hậu Lộc, để ở trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày 19 tháng 12 năm 2022 đến ngày 19 tháng 12 năm 2023.

Khoảng 23 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2022, S đang ở phòng trọ thì Trương Quang Tr dùng điện thoại của mình (số thuê bao 0347038926) gọi cho S (số thuê bao 0967531207) hỏi S có ở phòng không rồi đi đến phòng trọ của S chơi; lúc này ở phòng trọ chỉ có một mình S đang dùng điện thoại chơi game. Trong lúc ngồi chơi, Trương Quang Tr và La Văn S thống nhất mỗi người góp số tiền 1.000.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Trương Quang Tr dùng điện thoại của mình gọi cho Mai Xuân Tr (số thuê bao 0347057187) hỏi Mai Xuân Tr có mua được ma túy ở đâu thì mua nửa chỉ Ketamine (ma túy tổng hợp) về sử dụng. Mai Xuân Tr trả lời: “Để nhờ xem”, rồi dùng điện thoại của mình gọi điện đến số thuê bao 0975765605 cho người có tên lưu tên trong điện thoại của Mai Xuân Tr là “Bom Hh” (nhưng Mai Xuân Tr chỉ biết biệt danh là “Bờm”, còn tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu Mai Xuân Tr không biết) nhờ mua ma túy, người này đồng ý. Mai Xuân Tr gọi điện thoại báo cho Trương Quang Tr biết việc nhờ mua được ma túy, Trương Quang Tr nói lại với S rồi S chuyển số tiền 1.000.000 đồng từ tài khoản số 109871319340 của mình đến tài khoản số 0347038926 của Trương Quang Tr và cho Trương Quang Tr số điện thoại xe taxi. Trương Quang Tr gọi điện thoại đến số thuê bao 0946694899 của lái xe taxi S đã cho - là số thuê bao của anh Lê Văn Q, sinh năm 1986, cư trú ở Thôn H, xã X, huyện H, thuê xe và hẹn anh Q đến gần Nhà trọ Yến Anh đón Trương Quang Tr, còn S ở lại phòng trọ. Khi lên xe, Trương Quang Tr ngồi ghế trước bên phụ và nói với anh Q chạy đến Quán nhậu 24h ở thôn Đ, xã M, huyện H đón Mai Xuân Tr. Khi lên xe, Mai Xuân Tr ngồi ghế sau và nói với anh Q chạy sang Ngã tư Hải Tiến - thuộc địa phận xã Hoằng Tiến, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Trên đường đi, Trương Quang Tr chuyển số tiền 1.500.000 đồng từ tài khoản số 0347038926 của mình đến tài khoản số 101872726838 của Mai Xuân Tr và đưa cho Mai Xuân Tr 500.000 đồng tiền mặt để mua ma túy và trả tiền xe taxi. Xe đi đến khu vực ngã tư Hải Tiến thì Mai Xuân Tr gọi điện thoại lại cho số thuê bao 0975765605 và nhìn thấy có một nam thanh niên đang ngồi trên xe máy ở gần ngã tư. Khi xe taxi đi đến chỗ nam thanh niên thì Mai Xuân Tr hạ kính cửa xe xuống để nhận ma túy - loại Ketamine, rồi lấy tiền mặt của mình và tiền mặt của Trương Quang Tr đã đưa để trả 1.700.000 đồng tiền mua ma túy và trả 300.000 đồng tiền thuê xe taxi. Sau đó, anh Q chở Trương Quang Tr và Mai Xuân Tr đi về.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2022, Trương Quang Tr và Mai Xuân Tr về đến phòng trọ của S. Mai Xuân Tr để túi Ketamine vừa mua xuống thảm sàn nhà rồi đi sang phòng trọ của chị Khổng Thị Thu H, sinh năm 2002, cư trú ở thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc ở bên cạnh phòng của S lấy gói thuốc lá và cầm theo một loa mini (có gắn đèn Led) mang sang phòng S. Nghe Trương Quang Tr hỏi S: “ Có đĩa không”, S trả lời: “Không, chỉ có đĩa nhựa”, nhìn thấy ở giá bát đĩa trước phòng trọ của S có đĩa sứ nên Mai Xuân Tr cầm đĩa sứ vào phòng. S cầm đĩa sứ dùng bật lửa hơ nóng đĩa rồi đưa cho Mai Xuân Tr cầm túi Ketamine đổ lên đĩa. S lấy thẻ card cứng đang bỏ trong ví của mình đưa cho Mai Xuân Tr dùng để đảo, trộn Ketamine - gọi là “Xào ke”, làm cho Ketamine nhỏ mịn và khô ráo thành dạng bột mịn, rồi S lấy tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng trong ví của mình ra cuộn thành ống hút để sử dụng Ketamine, còn Trương Quang Tr bật đèn pin điện thoại soi để cho Mai Xuân Tr “Xào ke”. Cùng lúc đó, chị Khổng Thị Thu H và cháu Vi Thị Bảo Nh, sinh ngày 13/3/2008 (tính đến ngày 21/12/2022, cháu Nh đã đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi), cư trú ở Bản K, xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An thuê phòng trọ bên cạnh sang phòng S chơi và ngồi ở giường. Mai Xuân Tr “Xào ke” xong thì tự kẻ hai đường bột Ketamine nhỏ - gọi là “Đường ke” rồi dùng ống hút cuốn bằng tờ tiền S đã chuẩn bị để sử dụng Ketamine bằng hình thức hít vào đường mũi. Sử dụng xong, Mai Xuân Tr tiếp tục kẻ hai “Đường ke” rồi đưa cho S sử dụng; lúc này Mai Xuân Tr dùng điện thoại cá nhân kết nối với loa mini để mở nhạc. S sử dụng xong đặt đĩa Ketamine xuống thảm sàn nhà, Mai Xuân Tr tiếp tục cầm đĩa lên kẻ hai “Đường ke” rồi đưa cho Trương Quang Tr sử dụng. Trương Quang Tr sử dụng xong đặt đĩa Ketamine xuống thảm sàn nhà, Mai Xuân Tr tiếp tục cầm đĩa lên kẻ nhiều “ Đường ke” rồi bê đĩa Ketamine để chị Hiền và cháu Nhiên tự cầm ống hút lần lượt sử dụng; chị Hiền và cháu Nhiên sử dụng xong, Mai Xuân Tr đặt đĩa xuống thảm sàn nhà.

Đến khoảng 02 giờ cùng ngày 22 tháng 12 năm 2022, ngay sau khi 05 người vừa sử dụng ma túy - loại Ketamine xong thì bị Tổ tuần tra của Công an huyện H kiểm tra, phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang; thu giữ quả tang và niêm phong các mảnh sứ vỡ màu trắng của chiếc đĩa sứ đã bị vỡ bỏ trong gối chùi chân trước cửa nhà vệ sinh, 01 ống hút cuộn tròn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 100.000 đồng được định hình bằng 03 vỏ tẩu thuốc lá ở góc phòng trước cửa nhà vệ sinh, 01 thẻ cứng trong bồn cầu nhà vệ sinh (đã bị tách thành 02 mảnh), 01 loa mini dưới ngăn bàn, 01 bật lửa ga trên thảm sàn nhà, 01 điện thoại nhãn hiệu IphoneX gắn sim có số thuê bao 0347038926 của Trương Quang Tr, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung gắn sim có số thuê bao 0967531207 của La Văn S, 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi gắn sim có số thuê bao 0347057187 của Mai Xuân Tr. Quá trình bắt giữ quả tang và niêm phong vật chứng, Tổ công tác đã mời đại diện chính quyền địa phương và Anh Bùi Văn T- là chủ nhà trọ chứng kiến.

Khám xét khẩn cấp phòng trọ của La Văn S, không thu giữ thêm được đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến vụ việc.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ban hành các Quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa giám định chất bám dính ở các vật chứng đã thu giữ quả tang và giám định các mẫu nước tiểu đã thu giữ của La Văn S, Trương Quang Tr, Mai Xuân Tr, Vi Thị Bảo Nh và Khổng Thị Thu H.

Tại Kết luận giám định số 161/KL-KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên các mảnh sứ vỡ màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 thẻ card hình chữ nhật, có kích thước khoảng (5x9)cm của phong bì niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 161/KL-KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của La Văn S, Trương Quang Tr, Mai Xuân Tr, Vi Thị Bảo Nh, Khổng Thị Thu H gửi giám định.

La Văn S, Trương Quang Tr, Mai Xuân Tr, Vi Thị Bảo Nhvà Khổng Thị Thu H đã được thông báo nội dung các Kết luận giám định, cả 05 người đều đồng ý với kết quả giám định và không có ý kiến hay đề nghị gì.

Về vật chứng của vụ án: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1, M2, M3 và các mảnh sứ vỡ màu trắng (chiếc đĩa bị vỡ) của phong bì ký hiệu M1; 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng và 03 vỏ tẩu thuốc lá của phong bì ký hiệu M2; 01 thẻ card hình chữ nhật, có kích thước khoảng (5x9)cm (đã bị tách thành 02 mảnh) của phong bì niêm phong ký hiệu M3 - tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, niêm phong. 01 loa mini màu đen (có gắn đèn Led), 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng, 01 điện thoại nhãn hiệu IphoneX màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0347038926 của Trương Quang Tr, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0967531207 của La Văn S, 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0347057187 của Mai Xuân Tr hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Các mẫu nước tiểu thu của La Văn S, Trương Quang Tr, Mai Xuân Tr, Vi Thị Bảo Nhvà Khổng Thị Thu H đã sử dụng hết cho quá trình giám định, nên không hoàn lại.

Tại bản Cáo trạng số 35/CTr-VKS HL ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, truy tố các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr, về tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện H, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b và điểm c khoản 2, Điều 255 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố các bị cáo: Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Mức hình phạt áp dụng: Căn cứ điểm b, điểm c Điều 255, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, khỏan 2 Điều 51 đối với La Văn Svà Trương Quang Tr, điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Trương Quang Tr, mức hình phạt từ 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù đến 09 năm 06 (sáu) tháng tù; La Văn S, từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, Mai Xuân Tr mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1,2 Điều 47, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu M1, M2, M3 và các mảnh sứ vỡ màu trắng (chiếc đĩa bị vỡ) của phong bì ký hiệu M1; 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng, 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng và 03 vỏ tẩu thuốc lá của phong bì ký hiệu M2; 01 thẻ card hình chữ nhật, có kích thước khoảng (5x9)cm (đã bị tách thành 02 mảnh) của phong bì niêm phong ký hiệu M3 - tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, niêm phong.

Sung quỹ nhà nước 01 loa mini màu đen (có gắn đèn Led), 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng 01 điện thoại nhãn hiệu IphoneX màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0347038926 của Trương Quang Tr, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu đen cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0967531207 của La Văn S, 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh cũ đã qua sử dụng gắn sim có số thuê bao 0347057187 của Mai Xuân Tr hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ NQUBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr không có ý kiến, quan điểm tranh luận về tội danh và về mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án nhẹ nhất để có cơ hội trở về với gia đình và cộng đồng xã hội trở thành công dân lương thiện

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về chứng cứ buộc tội: Vào hồi 02 giờ 30 phút ngày 22 tháng 12 năm 2022, ngay sau khi Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr vừa tổ chức sử dụng xong chất ma túy, loại Ketamine cùng với Khổng Thị Thu H và Vi Thị Bảo Nh(là người đã đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi) tại nhà trọ Yến Anh, đường Bà Triệu, khu Tr, thị trấn H, huyện H thì bị kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang người cùng với vật chứng vụ án.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng được niêm phong ký hiệu M 1, M2, M3, Kết luận giám định số 161/KL-KTHS ngày 28 tháng 12 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên các mảnh sứ vỡ màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu M1. Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng của phong bì niêm phong ký hiệu M2. Tìm thấy chất ma túy, loại Ketamine trên 01 thẻ card hình chữ nhật, có kích thước khoảng (5x9)cm của phong bì niêm phong ký hiệu M3 và tìm thấy chất ma túy loại Ketamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của La Văn S, Trương Quang Tr, Mai Xuân Tr, Vi Thị Bảo Nh và Khổng Thị Thu H gửi giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ căn cứ để khẳng định: Các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr đã tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép ma túy loại Ketamine. Hành vi của Trương Quang Tr, La Văn Svà Mai Xuân Tr, đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

. Xét tính chất của vụ án: Tội phạm ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy nói chung có tác hại đến sức khỏe con người. Tội phạm về ma túy đã xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, nên cần phải xử lý nghiêm, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung,

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của BLHS

. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định, các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr, được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự là “ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra La Văn S có ông nội là người có công với Nhà nước. Tại phiên tòa mẹ đẻ Trương Quang Tr xuất trình Huân chương kháng chiến hạng ba, Huân chương giải phóng hạng nhất của ông Trương Văn Nhẹ là ông nội bị cáo và Quyết định hoàn thành nghĩa vụ Q sự năm 2022, nên các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn Sđược xem xét hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

. Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo: Trong vụ án này, mặc dù có nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ nên không thuộc trường hợp “Phạm tội có tổ chức”, mà chỉ là trường hợp đồng phạm với vai trò giản đơn. Trong đó, Trương Quang Tr là người khởi sướng, đóng góp tiền và cùng Mai Xuân Tr đi mua ma túy, Mai Xuân Tr là người không khởi sướng, không góp tiền nhưng khi Trương Quang Tr đặt vấn đề tìm mua ma túy thì Mai Xuân Tr đã trực tiếp liên lạc tìm người bán ma túy và trực tiếp nhận tiền, trả tiền mua ma túy, sau khi mua được ma túy Mai Xuân Tr đã sang phòng chị Khổng Thị Thu H để lấy loa mi ni, lấy đĩa sứ, đổ ma túy vào đĩa sào Ke và trực tiếp đưa cho Khổng Thị Thu H và Vi Bảo Nh, sinh ngày 13/3/2008 sử dụng ma túy. Tuy Mai Xuân Tr không phải là người khởi sướng nhưng là người giúp sức tích cực và đặc biệt đưa ma túy cho người từ 13 đến dưới 18 tuổi sử dụng, nên bị cáo này có cùng vai trò trọng yếu như người khởi sướng; Đối với La Văn S là người cùng góp tiền mua ma túy nhưng có vai trò sau Mai Xuân Tr và Trương Quang Tr, vì chỉ dùng bật lửa hơ nóng đĩa để Mai Xuân Tr đổ ma túy vào sào Ke, không phải là người khởi sướng, không đưa ma túy cho người khác sử dụng nên có vai trò thứ yếu.

.Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo Điều 38 BLHS 2015 đối với các bị cáo là cần thiết. Do các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, không chứng minh được tài sản riêng, nguồn thu nhập hàng tháng, nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 35 BLHS.

.Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật, các quyết định tố tụng được ban hành và giao cho bị cáo, không có kiếu nại trong hoạt động tố tụng, đảm bảo cho những người tham gia tố tụng được thực hiện quyền và nghĩa vụ khi khai báo. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự, tố tụng hình sự là đầy đủ, có căn cứ.

. Đối với anh Lê Văn Q làm nghề lái xe Taxi. Quá trình điều khiển xe chở Trương Quang Tr và Mai Xuân Tr đi, anh Q đi theo chỉ dẫn, không nói chuyện và không biết mục đích Trương Quang Tr và Mai Xuân Tr thuê xe để đi mua ma túy, không tham gia vào việc tổ chức sử dụng ma túy nên không có căn cứ truy cứu TNHS.

. Đối với chị Khổng Thị Thu H và Vi Thị Bảo Nh, là những người thuê trọ, không có hành vi góp tiền, không biết mục đích mượn loa mi ni, khi được chào mời mới sử dụng ma túy, nên không liên quan đến hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã chuyển Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.

. Đối với người tên “Bom Hh”, có số điện thoại di động thuê bao 0975765605 lưu trong danh bạ điện thoại của Mai Xuân Tr. Đã có hành vi bán ma túy cho Mai Xuân Tr, diễn ra tại khu vực ngã tư xã H, huyện H. Quá trình điều tra đã xác định là Nguyễn Xuân S, sinh năm 2000, hiện cư trú ở thôn S, xã Ho, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Do người này bỏ đi khỏi địa phương. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tách hồ sơ tài liệu để tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ hành vi để xử lý xử lý trong vụ án khác khi có đủ căn cứ, nên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án này.

.Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas đã qua sử dụng; 01phong bì niêm phong có chứa đựng các mẫu vật giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 bộ loa Microlap màu đen có gắn đèn lét đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ có trong phong bì niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen cũ của La Văn S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX màu đen của Trương Quang Tr và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh cũ của Mai Xuân Tr (các điện thoại có gắn sim). Toàn bộ vật chứng vụ án được bàn giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự quản lý và sử lý theo quy định của pháp luật.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 /UBTVQH-14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, điểm c, khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 đối với La Văn S và Trương Quang Tr; Điều 17, khoản 1 Điều 38, khoản 1 Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung 2017.

Tuyên bố: Các bị cáo Trương Quang Tr, La Văn S và Mai Xuân Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Trương Quang Tr 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2022.

Xử phạt: Mai Xuân Tr 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2022.

Xử phạt: La Văn S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 22/12/2022.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa gas đã qua sử dụng; 01phong bì niêm phong bên trong có chứa đựng mẫu vật sau giám định. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 bộ loa Microlap màu đen có gắn đèn lét đã qua sử dụng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ có trong phong bì niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu đen cũ của La Văn S, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX màu đen của Trương Quang Tr và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh cũ của Mai Xuân Tr (các điện thoại có gắn sim). Toàn bộ vật chứng vụ án được bàn giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2023.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/ 2016 /UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 61, Điều 65 và Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ