vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đan Phượng, TP. Hà Nội Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2023.

Tịch thu, tiêu hủy: 08 (tám) bao gói chứa ma túy cùng 01 thẻ ATM, 02 hộp nhựa hình trụ, 01 bộ tẩu tự chế, 01 đĩa sứ sau giám định của phòng PC09- Công an thành phố Hà Nội; 01 bật lửa gas màu vàng; 01 túi vải màu ghi xám; 01 túi giả da màu đen, kích thước khoảng 15 x 23cm. Tịch thu sung vào Ngân sách… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D bị truy tố và xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2023.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAN PHƯỢNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày: 31-5 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỒ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồ

Bà Nguyễn Thị Chiều

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trí Tuân – Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội

- Hỗ trợ tại điểm cầu Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội: Ông Phạm Như Hoàng Hải – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Dng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và tại 01 điểm cầu Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2023/TLST - HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 đối với:

* Bị cáo: Nguyễn Văn D, sinh năm 1995 tại xã Liên H, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Cụm 3, xã Liên H, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và con bà Nguyễn Thị B; có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 101 lập ngày 17/3/2023 của Công an huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội; bị bắt tạm giữ ngày 08/3/2023, tạm giam ngày 17/3/2023 đến nay; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Quang M, sinh năm 1995; địa chỉ: Cụm 1, xã Liên H, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Ông Nguyễn Văn N; nơi cư trú: Cụm 3, xã Liên H, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội Dng vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 07/3/2023, Nguyễn Văn D đang ở nhà tại khu Đồng Ông, xã Đan Ph, huyện Đan Ph, thành phố Hà Nội thì Nguyễn Quang M gọi điện hỏi D có nhà để M qua nói chuyện và ngủ nhờ, D đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, M đến nhà D khi đang ngồi nói chuyện thì ba người bạn của M đến, trong đó có một người tên H và 01 người nam giới, 01 người nữ giới không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Tại phòng ngủ tầng 2 nhà D, Hùng nói với D “Chơi đồ ở đây được không”, D hiểu là chơi ma túy ở nhà D nhưng D nói không được vì sợ bố D biết và nói thêm với H là để D về nhà D ở cụm 3, xã Liên H, huyện Đan Ph, Hà Nội lấy hoa quả và xem tình hình thế nào đã. Sau khi từ xã Liên H về, D đi lên phòng ngủ tầng 2 của mình thấy Hùng đang cầm 01 túi nilong bên trong có 02 viên nén màu hồng là ma túy ngựa, 01 túi tinh thể màu trắng bên trong là ma túy Ketamine, 01 túi nilong chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, H tiếp tục hỏi D “Chơi một tý được không”?, D đồng ý. H hỏi D cóong sử dụng ma túy, D lấy cóong sử dụng ma túy phía sau tivi trong phòng ngủ của D cho H. Sau đó, H lấy một phần ma túy đá và ngựa trong số ma túy mà Hùng mang đến cho vào trong cóong thủy tinh được gắn vào chai nhựa trên rồi Hùng đưa cho D sử dụng trước. D cầm bộ tẩu tự chế rồi sử dụng ma túy đá. Sau khi sử dụng xong, D để xuống dưới giường. Người bạn nữ đi cùng H lấy 01 đĩa sứ màu trắng đổ một phần ma túy Ke trong túi ma túy Ke H mang đến ra đĩa, lấy một chiếc thẻ nhựa ra xào ma túy Ke và lấy một ống hút được cuốn bằng tờ tiền 10.000 đồng rồi đưa cho M sử dụng. M sử dụng một đường ma túy Ke rồi để đĩa lên kệ tủ cạnh giường ngủ, ngoài ra M có lấy một mảnh ma túy Kẹo mà H mang đến để sử dụng. Cùng lúc này H có điện thoại nên Hùng và 02 người bạn của Hùng không sử dụng ma túy mà đi giải quyết công việc. Sau đó, D, Minh tiếp tục sử dụng ma túy và đi ngủ. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 08/3/2023, Công an huyện Đan Phượng đến kiểm ta, phát hiện toàn bộ số ma túy D, M chưa sử dụng hết và dụng cụ sử dụng số ma túy trên. Ngoài ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đan Phượng tiến hành xem xét chỗ ở nhà của D phát hiện thu tại ngăn kéo bên phải bàn trang điểm phòng ngủ tầng 2 (D khai là ma túy Ke), 01 gói giấy bằng tờ tiền 1.000 đồng bên trong chứa tinh thể màu trắng bên trong 01 ví giả da màu đen để tại ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ tầng 2 (D khai là ma túy Ke), 01 túi nilong màu trắng trong viền xanh bên trong chứa chất bột màu hồng thu tại đống rác cạnh cửa nhà vệ sinh phòng ngủ tầng 2 và 01 đầu thu camera thu tại góc bên trong phòng khách tầng 2.

Tại Kết luận giám định số 1418/KLGĐ-PC09 ngày 16/3/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

Tinh thể màu trắng trong 01 gói giấy màu trắng (mẫu số 01) là loại ma túy Ketamine, khối lượng 0,119 gam.

01 đĩa sứ hình bầu dục, 01 thẻ nhựa ATM màu xanh, 01 ống hút được cuốn bằng tờ tiền Việt Nam loại 10.000 đồng (Mẫu số 2) đều dính ma túy loại Ketamine.

02 túi nilong (mẫu số 2) đều dính ma túy loại Methamphetamine

Các mảnh viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilong (Mẫu số 3) đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,133 gam.

Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (Mẫu số 3) là loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,077 gam.

Chất bột màu trắng bên trong hai hộp nhựa hình trụ tròn, cao 4cm, đường kính 2,5cm (Mẫu số 03) đều không thấy chất ma túy , tổng khối lượng 12,632 gam

Tinh thể màu trắng bên trong 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 1.000 đồng (Mẫu số 4) là loại ma túy Ketamine, khối lượng 0,079.

Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong (Mẫu số 4) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,162gam.

Chất bột màu hồng bên trong 01 túi nilong (Mẫu số 05) là loại ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,007 gam.

01 bộ tẩu hút tự chế (Mẫu số 06) có dính chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Kết luận số 1419/KLGĐ-PC09 ngày 16/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, kết luận: Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn D (KHM1) có ma túy loại Methamphetamine. Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Quang Minh (KHM2) có ma túy loại MDMA và ma túy loại Ketamine.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT- VKS ngày 10/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Bị cáo không biết H và 02 người đi cùng Hùng. Do H là bạn của M nên bị cáo đã đồng ý cho H, M và 02 người đi cùng sử dụng ma túy tại phòng ngủ của bị cáo. H mang ma túy đến nhà bị cáo, còn bị cáo lấy cóong tự chế và cho sử dụng một số dụng cụ khác để sử dụng ma túy. Bị cáo không thu bất cứ tiền hay tài sản gì của H, M và 02 người đi cùng. Công an huyện Đan Phượng đã thu giữ toàn bộ số ma túy được sử dụng ngày 07/3/2023 và số ma túy để ở ngăn kéo bàn ngủ của bị cáo như bản cáo trạng nêu.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn D từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy sau giám định, 02 hộp nhựa, 01 tẩu hút, đĩa sứ, 01 thẻ ATM, 01 bật lửa, 01 túi giả da, 01 túi vải. Tịch thu sung công 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Trả lại: 01 điện thoại di động có thuê bao 0359136392 và 01 điện thoại di động có thuê bao 0961757964 cho Nguyễn Văn D; 01 điện thoại di động có thuê bao 03333367895 và 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu “JBL” màu đen, xám đã qua sử dụng cho Nguyễn Quang M; 01 đầu thu camera cho ông Nguyễn Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đan Phượng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội Dng bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng vụ án, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/3/2023, tại phòng ngủ tầng 2 của Nguyễn Văn D ở khu vực Đồng Sậy, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn D đã lấy các dụng cụ để cho Nguyễn Quang M sử dụng ma túy Ketamine, ma túy đá. Số ma túy này do một người tên Hùng, không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể là bạn của Minh mang đến. Đến khoảng 08 giờ ngày 08/3/2023, Công an huyện Đan Phượng kiểm tra, thu giữ 01 gói ma túy Ketamine khối lượng 0,119 gam; 02 gói ma túy Methamphetamine, khối lượng 0,210 gam và dụng cụ sử dụng ma túy, túi bám dính ma túy Ketamine đây là số ma túy Hùng mang đến cho D và M sử dụng nhưng chưa hết cùng đồ vật khác. Hành vi trên của D đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma túy là chất gây nghiện được Nhà nước độc quyền quản lý. Hành vi của D để cho các đối tượng khác sử dụng ma túy gây ảnh hưởng đến sức khỏe, nòi giống, cũng như gây nên các tội phạm nghiêm trọng khác. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo đã từng tham gia phục vụ trong Công an nhân dân và có thành tích trong công tác phòng cháy chữa cháy được Giám đốc Công an thành phố Hà Nội tặng giấy khen, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội tặng Bằng khen; bị cáo là lao động chính, sau ly hôn một mình nuôi con là các tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Theo khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy Nguyễn Văn D lao động tự do và phải chấp hành án phạt tù nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Đối với người tên Hùng mang ma túy đến và đi cùng 02 người trong đó có 01 người nữ xào ma túy Ketamine cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý. Việc H mang ma túy đến nhà D thì M không biết nên Cơ quan điều tra không xử lý M về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

. Đối với Nguyễn Quang M sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra ra quyết định xử phạt hành chính đối với Minh là có căn cứ.

. Đối với 02 gói ma túy thu tại ngăn kéo bàn trang điểm, 01 gói ma túy thu tại đống rác trước cửa nhà vệ sinh trong phòng ngủ của D là số ma túy D mua trước đó để sử dụng, D không nhớ mua của ai và khối lượng trong 3 gói ma túy trên không đủ định lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra xử lý hành chính với D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ.

. Ông Nguyễn Văn Năm không biết D cho M sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà ông nên cơ quan Công an không xử lý là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với các vật chứng được giám định có chứa chất ma túy gồm: 08 (tám) bao gói sau giám định của phòng PC09- Công an thành phố Hà Nội là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là công cụ liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 bật lửa gas màu vàng; 01 thẻ ATM, 02 hộp nhựa hình trụ, 01 bộ tẩu tự chế; 01 đĩa sứ được niêm phong trong các bao gói sau giám định. Các vật này là công cụ liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 túi vải màu ghi xám, 01 túi giả da màu đen, kích thước khoảng 15 x 23cm đều đã qua sử dụng, giá trị sử dụng không lớn nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng được sử dụng gói ma túy; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành uống hút sử dụng ma túy. Các tờ tiền này được niêm phong trong các bao gói sau giám định phải sung vào Ngân sách nhà nước.

Các tài sản của Nguyễn Quang M gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu “JBL” màu đen, xám đã qua sử dụng. Quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho Minh.

Các tài sản của Nguyễn Văn D gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart màu tím đã qua sử dụng trên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy. Quá trình điều tra đã làm rõ không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho D.

01 đầu thu dữ liệu Camera, nhãn hiệu @hua, SN6GOADA&PAZ20FAB thu giữ của ông Nguyễn Văn N bố bị cáo. Tài sản này không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho ông Năm.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Văn D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/3/2023.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: 08 (tám) bao gói chứa ma túy cùng 01 thẻ ATM, 02 hộp nhựa hình trụ, 01 bộ tẩu tự chế, 01 đĩa sứ sau giám định của phòng PC09- Công an thành phố Hà Nội; 01 bật lửa gas màu vàng; 01 túi vải màu ghi xám; 01 túi giả da màu đen, kích thước khoảng 15 x 23cm.

Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng niêm phong trong các bao gói sau giám định.

Trả lại Nguyễn Quang M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu tím đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy; 01 loa nghe nhạc nhãn hiệu “JBL” màu đen, xám đã qua sử dụng.

Trả lại Nguyễn Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã qua sử dụng, bên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vmart màu tím đã qua sử dụng trên trong có lắp 01 sim thuê bao, không kiểm tra được tình trạng hoạt động của máy.

Trả lại ông Nguyễn Văn N 01 đầu thu Camera, nhãn hiệu @hua, SN6GOADA&PAZ20FAB

(Vật chứng nêu trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đan Phượng và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đan Phượng ngày 15/5/2023).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan đến bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ