vanban.org

Bản án 42/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H, Lã Minh D - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2023/HS-ST
Ngày 29- 6- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thúy Phương

Bà Lê Thị Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2025/TLST-HS, ngày 16 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 22 tháng 10 năm 1984 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Số nhà E, khu N, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Phương U và bà Lê Thị O (đã chết); có chồng: Vy Long G và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/01/2023 đến nay; có mặt.

2. Lã Minh D, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12/4/1974 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên. Nơi cư trú: Số X, ngõ Y, đường T, khu N, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lã Minh S và bà Dương Thị C; có vợ: Chu Hải P và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 10/02/2023 đến ngày 03/3/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Hoàng Văn N; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 05/01/2023, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyện Cao Lộc đang làm nhiệm vụ phát hiện tại một quán nước thuộc khu V, thị trấn D, huyện C có biểu hiện hoạt động đánh bạc trái phép dưới hình thức ghi số lô, đề. Tiến hành kiểm tra phát hiện Nguyễn Thị H đang sử dụng trên điện thoại di động tổng hợp số lô, đề của người chơi qua Zalo chuyển cho một người có tài khoản Zalo là “Minh Phong” để hưởng tiền chênh lệch.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Thị H và các tài liệu thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc đã xác định Lã Minh D là người mua số lô đề với Nguyễn Thị H.

Các vật chứng thu giữ của Nguyễn Thị H gồm:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX màu xám, số Imei 1: 359314106299568, số Imei 2: 353914106118768.

- Số tiền 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ của Lã Minh D: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11PROMAX màu ghi, số Imei: 352845111899623.

Tại Kết luận giám định số: 426/KL-KTHS ngày 04/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận toàn bộ số tiền 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) đều là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, đã làm rõ: Nguyễn Thị H mở quán nước ở ngã ba khu V, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng cuối tháng 12/2022, Nguyễn Thị H gặp một người đàn ông tên V (không biết họ, địa chỉ cụ thể, chỉ biết V sinh sống ở Hà Nội) tại quán nước, V đặt vấn đề bảo Nguyễn Thị H làm thư ký ghi số lô đề của những người chơi, sau đó tổng hợp số lô, đề rồi chuyển cho V để hưởng hoa hồng chênh lệch. Do công việc không ổn định, muốn kiếm thêm thu nhập nên Nguyễn Thị H đồng ý. Hàng ngày, khi có khách đến mua số lô, đề, Nguyễn Thị H ghi số lô, đề vào tờ cáp nhỏ có chữ ký của Nguyễn Thị H đưa cho khách, sau đó sử dụng chiếc điện thoại Iphone 11 PROMAX tổng hợp số lô đề rồi nhắn tin chuyển cho V qua tài khoản Zalo có tên là “Minh Phong”. Số tiền trúng thưởng, thắng thua sẽ được thanh toán vào ngày hôm sau, V sẽ cho xe ôm đến lấy tại quán nước của Nguyễn Thị H.

Hình thức chơi lô đề như sau: Đối với đề, giải nhất người chơi chọn số từ 00 đến 99 sau đó đối chiếu với hai số cuối cùng của giải đặc biệt và giải nhất kết quả xổ số miền Bắc, nếu trúng sẽ được 70.000 đồng/điểm. Đối với 3 số, người chơi chọn số từ 000 đến 999 sau đó đối chiếu với ba số cuối cùng của giải đặc biệt kết quả xổ số miền Bắc, nếu trúng sẽ được 400.000 đồng/ điểm. Đối với lô, người chơi chọn số từ 00 đến 99 sau đó đối chiếu với hai số cuối cùng của các kết quả từ giải đặc biệt đến giải bảy của kết quả xổ số miền Bắc, nếu trúng sẽ được 80.000 đồng/ điểm. Đối với lô xiên 2, người chơi chọn một bộ gồm 02 số từ 00 đến 99, lô xiên 3 thì chọn một bộ gồm 03 số từ 00 đến 99, lô xiên 4 thì chọn một bộ gồm 04 số từ 00 đến 99 sau đó đối chiếu 27 kết quả từ giải đặc biệt đến giải bảy của kết quả xổ số miền Bắc, nếu trúng sẽ được trả 10.000 đồng/ điểm xiên 2, 40.000 đồng/điểm xiên 3, 100.000 đồng/điểm xiên 4.

Nguyễn Thị H tính với khách với giá 730 đồng/điểm đề, giải nhất, 3 số; 10.000 đồng/điểm lô xiên; 21.800 đồng/điểm lô. H chuyển cho V giá 710 đồng/điểm đề, giải nhất, 3 số hưởng lợi 20 đồng/điểm; 7.100 đồng/điểm lô xiên, hưởng lợi 2.900 đồng/điểm; 21.700 đồng/điểm lô, hưởng lợi 100 đồng/điểm.

Số tiền Nguyễn Thị H tổ chức đánh bạc trong ngày 05/01/2023 cụ thể như sau:

- Đề, giải nhất, 3 số: 48.880 điểm x 710 đồng/điểm = 34.704.800 đồng.

- Lô: 1.470 điểm x 21.700 đồng = 31.899.000 đồng.

- Lô xiên: 7.100 đồng/điểm x10 điểm = 71.000 đồng.

Tổng số tiền Nguyễn Thị H đánh bạc dưới hình thức chơi lô đề ngày 05/01/2023 là: 66.674.800 đồng (sáu mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn tám trăm đồng). Hưởng lợi chênh lệch từ việc ghi số lô đề là 1.153.600 đồng (một triệu một trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng).

Ngày 05/01/2023, Lã Minh D dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 của mình đăng nhập tài khoản Zalo và gửi tin nhắn ghi số lô đề cho Nguyễn Thị H, sau khi nghe tin H bị bắt về hành vi tổ chức đánh bạc, D đã vứt chiếc điện thoại di động Iphone 6 ở khu vực cầu thuộc khu V, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Số tiền Lã Minh D đánh bạc với Nguyễn Thị H trong ngày 05/01/2023 cụ thể như sau:

- Đề: 40.080 điểm x 730 đồng/điểm = 29.258.400 đồng.

- Lô: 230 điểm x 21.800 đồng/điểm = 5.014.000 đồng.

- Lô xiên: 20 điểm x 10.000 đồng/điểm= 200.000 đồng.

Tổng số tiền Lã Minh D đánh bạc dưới hình thức chơi lô đề ngày 05/01/2023 là 34.472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm đồng).

Do hành vi tổ chức đánh bạc của Nguyễn Thị H và hành vi đánh bạc của Lã Minh D bị phát hiện, ngăn chặn trước giờ mở thưởng xổ số miền Bắc nên không đối chiếu kết quả để xác định số tiền trúng thưởng trong tổng số tiền đánh bạc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, vật chứng thu giữ; biên bản xác định số tiền đánh bạc; Biên bản kiểm tra điện thoại di động và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSCL ngày 12/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về Tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố bị cáo Lã Minh D về Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trong nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm Tội tổ chức đánh bạc.

Tuyên bố bị cáo Lã Minh D phạm Tội đánh bạc.

Về điều luật và hình phạt:

- Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị H.

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm về Tội đánh bạc.

- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 với bị cáo Lã Minh D.

+ Xử phạt bị cáo Lã Minh D từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm về Tội đánh bạc.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 322, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), bị cáo Lã Minh D 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đề nghị tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX màu xám, số Imei 1: 359314106299568, số Imei 2: 353914106118768 và số tiền 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị H vì đây là công cụ và số tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11PROMAX màu ghi, số Imei: 352845111899623 của bị cáo Lã Minh D. Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã trả lại cho bị cáo. Đề nghị không xem xét, giải quyết.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử truy thu số tiền do phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước gồm: Số tiền 30.082.400 đồng (ba mươi triệu không trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng) của bị cáo Nguyễn Thị H; số tiền 34. 472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bẩy mươi hai nghìn bốn trăm đồng) của bị cáo Lã Minh D.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thị H tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại, và giảm số tiền truy thu.

Viện kiểm sát tranh luận: Xác định bị cáo Nguyễn Thị H đã dùng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX màu xám, số Imei 1: 359314106299568, số Imei 2: 353914106118768 để nhắn tin ghi lô đề và chuyển lô đề; đối với số tiền 30.082.400 đồng (ba mươi triệu không trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng). Viện kiểm sát đề nghị truy thu là số tiền do bị cáo tổ chức đánh bạc với nhiều người trong ngày 05/01/2023. Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 phải bị tịch thu và truy thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định.

Bị cáo Lã Minh D nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, giải thích hướng dẫn các bị cáo về quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý, quyền nhờ người bào chữa theo quy định. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Người chứng kiến ông Hoàng Văn N vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của người chứng kiến trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định.

Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các biên bản gồm: Biên bản sự việc, biên bản kiểm tra tin nhắn và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Hồi 17 giờ 50 phút ngày 05/01/2023, tại khu V, thị trấn D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, tổ công tác Công an huyện Cao Lộc kiểm tra, phát hiện bị cáo Nguyễn Thị H có hành vi tổ chức đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức ghi số lô, đề. Quá trình điều tra đã xác định ngày 05/01/2023, bị cáo Nguyễn Thị H nhận ghi số lô đề của bị cáo Lã Minh D và những người chơi rồi chuyển cho người khác để hưởng tiền chênh lệch. Trong ngày 05/01/2023: Số tiền tổ chức đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thị H là 66.674.800 đồng (sáu mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn tám trăm đồng). Hưởng lợi chênh lệch từ việc ghi số lô đề là 1.153.600 đồng (một triệu một trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm đồng); số tiền đánh bạc của bị cáo Lã Minh D là 34.472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bảy mươi hai nghìn bốn trăm đồng). Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị H phạm Tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Lã Minh D phạm Tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người khác, gây sự bất bình trong quần chúng nhân dân mà còn góp phần làm gia tăng các tội phạm khác trong xã hội.

Để có hình phạt đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Hội đồng xét xử sẽ xem xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, cụ thể như sau:

Về vai trò: Bị cáo Nguyễn Thị H là người tổ chức đánh bạc, bị cáo Lã Minh D là người đánh bạc, nên các bị cáo có vai trò độc lập.

Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Lã Minh D chưa có tiền án, tiền sự nên có nhân thân tốt.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Lã Minh D không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Nguyễn Thị H: Tại Cơ quan điều tra thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra; bố bị cáo có công giúp đỡ cách mạng tham gia công tác phục vụ chiến đấu được tặng Kỷ niệm chương; bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi (con là Vy Bảo Hân, sinh ngày 20/01/2021); ủng hộ quỹ nhân đạo của thị trấn D, huyện C nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với bị cáo Lã Minh D: Tại Cơ quan điều tra thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối lỗi về việc mình đã gây ra; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trên cở sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình được áp dụng biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú tại ngoại chờ xét xử các bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật. Do đó, không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam, mà cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng là đủ giáo dục các bị cáo, giao các bị cáo về cho chính quyền địa phương và gia đình nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục các bị cáo cũng có thể giúp các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng"; còn theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Do đó, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị H là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), bị cáo Lã Minh D là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử thấy:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX màu xám, số Imei 1: 359314106299568, số Imei 2: 353914106118768, xác định đây là công cụ bị cáo Nguyễn Thị H sử dụng để đánh bạc. Tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị H xác định liên quan đến việc phạm tội. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11PROMAX màu ghi, số Imei: 352845111899623 của bị cáo Lã Minh D. Cơ quan điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo đã trả lại cho bị cáo. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với khách đến mua số lô, đề với bị cáo Nguyễn Thị H: Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận chỉ có bị cáo Lã Minh D và 01 người đàn ông có tài khoản Zalo “A Nhọt 2” gửi tin nhắn ghi số lô đề qua tài khoản Zalo cho bị cáo Nguyễn Thị H. Quá trình điều tra xác định tài khoản Zalo mang tên “A Nhọt 2” trong ngày 05/01/2023 đánh bạc với bị cáo Nguyễn Thị H với số tiền 1.163.000 đồng (một triệu một trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Bị cáo Nguyễn Thị H khai nhận không biết cụ thể tên tuổi, địa chỉ, chỉ biết người này làm nghề lái taxi, thỉnh thoảng đi qua quán nước của bị cáo Nguyễn Thị H, bị cáo Nguyễn Thị H không có số điện thoại mà chỉ kết bạn qua tài khoản Zalo. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với người đàn ông tên V nhận số lô, đề của bị cáo Nguyễn Thị H và những người xe ôm đến lấy tiền cho V: Bị cáo Nguyễn Thị H khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Do ngoài lời khai của bị cáo không còn thêm tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đối với các đối tượng trên để tiếp tục xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với các khách đến ghi số lô đề tại quán nước của bị cáo Nguyễn Thị H đều là khách qua đường, không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn không có cơ sở xác minh, làm rõ nhân thân của những người này để xử lý trong vụ án. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 6, bị cáo Lã Minh D dùng để nhắn tin ghi số lô đề với bị cáo Nguyễn Thị H: Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát truy tìm vật chứng tuy nhiên không có kết quả. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, do sau khi thanh toán tiền cho những người mua số lô, đề thì bị cáo Nguyễn Thị H đều đã hủy toàn bộ tài liệu liên quan đến hành vi ghi số lô, đề, thu hồi toàn bộ các tin nhắn Zalo trong điện thoại vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn không thu giữ được tài liệu về việc bị cáo Nguyễn Thị H ghi số lô, đề trong thời gian trước ngày 05/01/2023, nên không có căn cứ để xử lý hành vi của bị cáo trước ngày 05/01/2023. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị H ngày 05/01/2023 có hành vi tổ chức đánh bạc với số tiền là 66.674.800 đồng (sáu mươi sáu triệu sáu trăm bảy mươi tư nghìn tám trăm đồng), thu giữ số tiền mặt thực tế bị cáo ghi là 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng), bị cáo Lã Minh D ghi số lô, đề 34.472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bẩy mươi hai nghìn bốn trăm đồng) chưa chuyển cho bị cáo Nguyễn Thị H, số tiền còn lại bị cáo cho những người ghi đề không rõ tên tuổi nợ là 30.082.400 đồng (ba mươi triệu không trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng). Do vậy, cần truy thu số tiền 30.082.400 đồng (ba mươi triệu không trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng) này và truy thu của bị cáo Lã Minh D số tiền 34.472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bẩy mươi hai nghìn bốn trăm đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa về áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với các bị cáo, các đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án. Do đó, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị H;

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lã Minh D;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a, b khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292, Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

+ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm Tội tổ chức đánh bạc;

+ Tuyên bố bị cáo Lã Minh D phạm Tội đánh bạc.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/6/2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện C giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2.2. Xử phạt bị cáo Lã Minh D 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/6/2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện C giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện C trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về hình phạt bổ sung:

- Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị H 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

- Phạt tiền bị cáo Lã Minh D 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX màu xám, số Imei 1: 359314106299568, số Imei 2: 353914106118768 của bị cáo Nguyễn Thị H.

3.2. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.120.000 đồng (hai triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Thị H.

(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và được ghi chi tiết tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/5/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lộc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

4. Về các biện pháp tư pháp

4.1. Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 30.082.400 đồng (ba mươi triệu không trăm tám mươi hai nghìn bốn trăm đồng).

4.2. Truy thu sung ngân sách Nhà nước của bị cáo Lã Minh D số tiền 34.472.400 đồng (ba mươi tư triệu bốn trăm bẩy mươi hai nghìn bốn trăm đồng).

5. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Lã Minh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ