- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn M - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42 /2021/HS-ST Ngày 20-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức
Ông Võ Hoàng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Sen – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 53/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Văn M, sinh ngày 15/8/1989 tại huyện Kim S, tỉnh Ninh Bình. Nơi ĐKHKTT: thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Nông. Nghề nghiệp: lao động tự do. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: thiên chúa giáo. Trình độ học vấn 10/12. Con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị L. Có vợ là Nguyễn Thị Khánh X và có 02 con, sinh năm 2016 và sinh năm 2018. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt ngày 09/01/2021 và bị tạm giữ, tạm giam đến ngày 15/4/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh, hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 01/2021, do thấy một số người thường có nhu cầu mua pháo đốt vào dịp tết Nguyên đán và bản thân đang cần tiền để điều trị bệnh nên Phạm Văn M đã nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại cho người khác để kiếm lời. Sau đó, Phạm Văn M đã dùng điện thoại của mình lên mạng xã hội “facebook” tìm kiếm người bán và đã liên hệ được với một người đàn ông (M không nhớ tên tài khoản) để mua pháo. M và người này nhắn tin qua “Messenger” thỏa thuận mua 50 hộp pháo, loại 49 viên/hộp với giá 650.000 đồng/hộp, địa điểm giao nhận pháo tại tỉnh Gia Lai. Sau khi hai bên thống nhất, M đã nhắn số điện thoại 0979691117 của mình cho người này để liên lạc rồi xóa toàn bộ tin nhắn trao đổi mua bán giữa hai bên. Đến tối ngày 07/01/2021, người đàn ông nêu trên nhắn tin qua Messenger cho M thông báo đã có pháo và yêu cầu M mang tiền đi đến tỉnh Gia Lai để nhận pháo. Đồng thời người này nhắn tin cho M số điện thoại để liên lạc là 0325903941 và yêu cầu M xóa hết nội dung tin nhắn giữa hai bên. Đến sáng ngày 08/01/2021, M mang theo số tiền 32.500.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48H1-8121 đi từ nhà của mình ở thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đăk Nông đến tỉnh Gia Lai. Khi M đi đến khu vực ngã ba Phú Mỹ thì người đàn ông nêu trên dùng số điện thoại 0325903941 gọi đến số điện thoại 0979691117 của M nói M chờ ở đây. Đến khoảng 09h00’ sáng ngày 09/01/2021, người đàn ông này tiếp tục gọi điện thoại cho M nói thay đổi địa điểm giao pháo và nói M đi đến khu vực ngã ba Hàm Rồng, M đồng ý và điều khiển xe mô tô 48H1-8121 đi đến địa điểm giao nhận. Đến trưa cùng ngày, khi đi đến gần ngã ba Hàm Rồng, M nhìn thấy có quán cơm Tây Nguyên nên vào ăn cơm. Trong lúc M đang ăn cơm thì người đàn ông nói trên tiếp tục goi điện thoại nói M đi về hướng ngã ba Hàm Rồng để nhận pháo và sẽ có người đứng ở bên đường đón M. Nghe vậy, M tiếp tục điều khiển xe đi về hướng ngã ba Hàm Rồng. Khi M đi đến khu vực Dốc Võng thuộc thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thì nhìn thấy có một người đàn ông đội mũ bảo hiểm, bịt khẩu trang kín mặt đang ngồi trên xe mô tô không gắn biển kiểm soát đang đứng đợi M ở bên đường. Người này dẫn M đi vào khu vực lô cao su bên cạnh cách đường quốc lộ khoảng 200 mét. Tại đây, M thấy các hộp pháo đã được để sẵn trên mặt đất. M kiểm tra thấy có đủ 50 hộp pháo nên đã giao cho người đàn ông này số tiền 32.500.000 đồng như thỏa thuận. Sau khi nhận tiền, người đàn ông nói trên bỏ đi, còn M chất toàn bộ số pháo nên trên lên xe mô tô 47H1-8121 để chuẩn bị chở đi về tỉnh Đăk Nông thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ: 50 hộp pháo loại KK0049; 01 xe mô tô biển kiểm soát 48H1-8121, hiệu Yamaha Sirius; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 48H1-8121; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số IMEI: 354387067273642 có gắn sim số 0398122723; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng, số IMEI: 990002281585560 có gắn sim số 0979691117
Qua sử dụng cân bàn điện tử của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng tỉnh Gia Lai xác định toàn bộ 50 hộp pháo nêu trên có tổng khối lượng là 94,38 kg. Sau khi cân xác định khối lượng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai đã tiến hành lấy mẫu giám định đối với các hộp pháo này gửi Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai để giám định theo quy định. Tại Kết luận giám định số 75/KLGĐ ngày 18/01/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Mẫu vật gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt bay lên cao, gây tiếng nổ và phát ra ánh sáng màu)
Tại Cáo trạng số 72/CT- VKS- P1 ngày 17 tháng 6 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố Phạm Văn M về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự.
2. Diễn biến tại phiên toà:
* Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và đồng ý với việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai về tội danh và điều luật áp dụng. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị như sau:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015,
Xử phạt bị cáo Phạm Văn M mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số pháo và tịch thu sung ngân sách 02 điện thoại di động.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng: Hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố vụ án, đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng hiện hành; các tài liệu, chứng cứ thu thập được có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: do muốn kiếm tiền và thấy nhu cầu sử dụng pháo đốt vào dịp tết nên bị cáo đã lên mạng tìm nguồn hàng pháo về bán kiếm lời. Bị cáo đã liên hệ với một người qua facebook thoả thuận số lượng, giá tiền và địa điểm giao nhận hàng, cách thức liên lạc, mua 50 hộp pháo, loại 49 viên/hộp với giá 650.000 đồng/hộp và bị cáo phải nhận pháo, trả tiền tại Gia Lai, ngày 9/01/2021 khi bị cáo nhận 50 hộp pháo từ người bán, chuẩn bị chở về Đăk Nông thì bị Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Gia Lai bắt quả tang, thu giữ. Tại Kết luận giám định số 75/KLGĐ ngày 18/01/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Mẫu vật gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt bay lên cao, gây tiếng nổ và phát ra ánh sáng màu), toàn bộ 50 hộp pháo nêu trên có tổng khối lượng là 94,38 kg.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam” là có căn cứ và đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm và trật tự an toàn chung tại địa phương. Hành vi đó cần được xử lý nghiêm, để cải tạo và giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; bị cáo bị cáo có ông ngoại được nhà nước tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang, huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo bị bệnh u tủy sống nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo nộp cho Tòa giấy khám sức khỏe ngày 06/7/2021 thể hiện tình trạng của bị cáo là liệt tứ chi do phẫu thuật cột sống cổ, đối chiếu với Luật người khuyết tật năm 2010 thì bị cáo là người khuyết tật, do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội là người khuyết tật nặng” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dụng bị cáo và răn đe chung cho xã hội.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 48 hộp pháo loại KK0049 là vật chứng của vụ án cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số IMEI: 354387067273642 và 01 sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng, số IMEI: 990002281585560 và 01 sim điện thoại là công cụ mà M dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo chưa thực hiện được hành vi bán pháo kiếm lời, bị cáo đang bị bênh nặng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán pháo cho M, quá trình điều tra M khai không biết người này là ai, ở đâu và không nhớ tên tài khoản facebook của người này. Các lần nhắn tin qua Messenger để thỏa thuận việc mua bán pháo, M đã xóa hết nội dung các tin nhắn trao đổi giữa hai bên theo yêu cầu của người này. Khi M gặp người này để giao nhận pháo thì người này đeo khẩu trang che kín mặt và sử dụng xe mô tô không gắn biển kiểm soát nên M không nhận dạng được. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh truy tìm và xử lý.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190, điểm s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Phạm Văn M 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2021 đến ngày 15/4/2021.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 48 hộp pháo, bên ngoài mỗi hộp có chữ “KK0049”, có tổng khối lượng 90,62kg
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu bạc, số IMEI: 354387067273642 và 01 sim điện thoại; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng, số IMEI: 990002281585560 và 01 sim điện thoại.
Các vật trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/2021 ngày 18/6/2021 giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh Gia Lai với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí lệ, phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND cấp cao - Viện KSND cấp cao - Viện tỉnh ia lai; - VP CQC ĐT Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng HSNV Công an tỉnh Gia Lai - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai; - Cục THADS tỉnh Gia Lai; - Trại tam giam T20; - Bị cáo; - ưu Tòa , VT, ơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Kim Hồng |