- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Trần H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Trần H phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án số: 42/2018/HS-ST Ngày 19-04-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN- TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hà Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đức Việt
Ông Cầm Văn Tổ Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Phương Thúy –Thư ký Tòa án Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2018/HSST ngày 02 tháng 3 năm 2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Lý Trần H. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1986 tại huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Trần L, sinh năm1944 và bà: Trần Thị S, sinh năm1956; Có vợ: Phùng Thị T, sinh năm 1984 và 01 con sinh năm 2016.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Nguyễn Thu C, sinh năm 1989 và anh Nguyễn Đình D. Địa chỉ: Tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kho ng 23 giờ ngày 01/8/2017, Lý Trần H điều khiển xe máy nh n hiệu WAVE S, biển kiểm soát: 26K6 – 3205 đi qua nhà Nguyễn Thu C (sinh năm 1989, trú tại xóm 1, tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La thì thấy đ n điện trong nhà v n sáng, cửa chính khép hờ, cổng khóa, H n y sinh ý định trộm cắp tài s n trong nhà C. H đi về nhà cất xe máy và đi bộ quay lại nhà C. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày quan sát thấy không có ai H tr o qua tường có căng lưới B40 vào sân, rồi đi vào nhà C b ng cửa chính, H đi vào dọc hành lang xuống bếp nhưng không thấy tài s n gì để trộm cắp nên quay lại phòng ngủ (giáp phòng bếp . H lấy 01 máy tính xách tay nh n hiệu DELL và 01 túi v i mầu tím (loại túi đựng máy tính để trên bàn, sau đó H cất máy tính vào trong túi v i rồi xách đi dọc hành lang đến phòng ngủ của vợ chồng C (giáp phòng khách , thấy vợ chồng C đang ngủ trên giường H đi vào lấy 01 chiếc điện thoại nh n hiệu SamSung A8 mầu vàng để trên bàn trang điểm cất vào túi v i rồi đi ra phòng khách. Thấy ở phòng khách có 02 chùm chìa khóa xe máy H cầm lấy đi ra sân mở cốp xe máy nh n hiệu HONDA SH, biển kiểm soát: 26K1 – 132.94 và lấy 01 chiếc ví da trong cốp cất vào trong túi v i rồi để lại 02 chùm chìa khóa trên yên xe. Sau đó H đi đến tủ đựng giầy dép (ở hiên nhà lấy 11 đôi giầy dép c nam và n trong tủ đút qua khe cổng để ở tường bê tông rồi tr o tường ra ngoài cầm túi v i và giầy dép đi về nhà. H giấu toàn bộ tài s n trộm cắp được vào phòng khách rồi điều khiển xe máy biển kiểm soát: 26K6 – 3205 đi ra lán ở vườn tại tiểu khu 18, thị trấn B và ngủ tại đó. Đến kho ng 7 giờ 00 phút ngày 02/8/2017 H về nhà kiểm tra tài s n trộm cắp được thấy có: 01 máy tính xách tay, 01 dây sạc, 01 chuột không dây; 01 ví da bên trong có 500.000VNĐ và giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Đình D, 01 th ATM; 01 điện thoại di động nh n hiệu SAMSUNG; và 11 đôi giầy dép c nam và n . H lấy hết số tiền, 01 đôi giầy thể thao nam mầu trắng, 01 đôi giầy da nam mầu nâu, 01 đôi giầy thể thao n mầu đen, máy tính, dây sạc và chuột H cho vào trong túi v i rồi giấu vào tủ phòng khách. Chiếc điện thoại H tháo sim rồi đưa cho vợ của H là Phùng Thị T sử dụng (H nói là nhặt được . Số giầy dép còn lại, sim điện thoại và chiếc ví da bên trong có giấy tờ và th ATM H mang đi vứt xuống suối tại cầu treo thuộc tiểu khu 13, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Ngày 10/11/2017, Nguyễn Thu C có đơn trình báo đến Công an huyện Mai Sơn về việc gia đình C bị mất trộm.
Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan CSĐT công an huyện Mai Sơn đ tiến hành các hoạt động điều tra đến ngày 11/12/2017, Công an huyện Mai Sơn triệu tập Hùng đến làm việc, tại cơ quan C nh sát điều tra công an huyện Mai Sơn, Hùng đ th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 12/12/2017, Cơ quan C nh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn đ ra Quyết định trưng cầu hội đồng định giá tài s n huyện Mai Sơn tiến hành định giá đối với số tài s n mà Lý Trần H trộm cắp của gia đình chị Nguyễn Thu C.
Tại b n kết luận định giá tài s n số 1513/KL-HĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2017 của Hội đồng định giá tài s n huyện Mai Sơn kết luận tài s n do Lý Trần H chiếm đoạt gồm:
+ 01 chiếc mày tính xách tay nh n hiệu DELL INSPIRON, mầu đen giá trị còn lại 7.680.000VNĐ.
+ 01 túi xách mầu tím nh n hiệu Thủ đô vàng giá trị còn lại 200.000 VNĐ.
01 đôi giầy thể thao nam nh n hiệu WILSON, c 43, mầu trắng – đen giá trị còn lại 800.000 VNĐ.
01 điện thoại đi động nh n hiệu SAMSUNG A8, mầu vàng giá trị còn lại 8.792.000 VNĐ.
01 đôi giầy n cao cổ (giầy bốt giá trị còn lại 200.000 VNĐ.
Tổng giá trị tài s n là: 17.672.000 VNĐ (mười bẩy triệu, sáu trăm b y mươi hai nghìn đồng .
Tại b n cáo trạng số: 17/CT-VKSMS ngày 02/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Lý Trần H về tội: Trộm cắp tài sản” theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý Trần H phạm tội Trộm cắp tài s n.
Áp dụng kho n 1 Điều 138; Điều 31; điểm b, h, p kho n 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Lý Trần H t 09 đến 12 tháng c i tạo không giam gi .
Miễn việc khấu tr thu nhập đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng kho n 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b kho n 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Chấp nhận việc Cơ quan c nh sát điều tra tr lại cho gia đình người bị hại Nguyễn Thu Hoài 01 máy tính DELL màu đen, 01 sạc máy tính DELL màu đen, 01 chuột máy tính không dây nh n hiệu Forter, 01 túi xách màu tím, 01 đôi giày thể thao nam màu trắng đen, 01 đôi giày n màu trắng đen, 01 đôi giày da nam màu nâu, 01 điện thoại di dộng nh n hiệu Samsung A8.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Lý Trần H đ tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Thu C tổng số tiền 10.000.000 VNĐ.
Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn .
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lý Trần H đ trình bày đúng với nội dung b n cáo trạng số 17/CT-VKSMS ngày 02/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Trong quá trình điều tra người bị hại trình bày: Ngày 01/8/2017 gia đình chị Nguyễn Thu C phát hiện bị mất số tài s n gồm: 01 máy tính DELL màu đen, 01 sạc máy tính DELL màu đen, 01 chuột máy tính không dây nh n hiệu Forter, 01 túi xách màu tím, 01 điện thoại di dộng nh n hiệu Samsung A8, 11 đôi giày dép, 01 ví da màu nâu có chứa: 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư nhân dân, 01 th ATM mang tên Nguyễn Đình D, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức V, 01 sim điện thoại và số tiền kho ng 700.000VNĐ. Ngày 10/11/2017 chị C đ có đơn trình báo đề nghị Cơ quan công an điều tra, làm rõ sự việc. Qua quá trình điều tra đ làm rõ Lý Trần H là đối tượng trộm cắp số tài s n trên. Hiện nay, gia đình chị C đ được nhận lại một phần số tài s n bị trộm cắp, số tài s n còn lại đ được gia đình bị cáo bồi thường với số tiền là 10.000.000VNĐ. Chị C và gia đình không có yêu cầu nào khác.
Bị cáo Lý Trần H tự bào ch a: Nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Mai Sơn, Kiểm sát viên, thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.
- Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:
Tại phiên tòa bị cáo Lý Trần H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đ khai tại cơ quan điều tra, bị cáo vì hám lời nên đ có hành vi trộm cắp tài s n. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi, bị cáo không khai gì thêm so với lời khai của mình tại Cơ quan c nh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đ thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên b n thu gi vật chứng, lời khai của người bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra đ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Vào ngày 01/8/2017 tại gia đình chị Nguyễn Thu C, Lý Trần H đ thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của gia đình chị C với tổng giá trị là 17.672.000VNĐ. Theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lý Trần H đ trưởng thành, nhận thức rõ hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, Tuy nhiên, vì hám lời bị cáo đ cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài s n. Do đó, hành vi của bị cáo đ phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng số 17/CT-VKSMS ngày 02/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Lý Trần H về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại kho n 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như quan điểm luận tội của kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo đ trực tiếp xâm hại đến quyền sở h u về tài s n của người bị hại và gián tiếp gây nh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương gây bất bình trong nhân dân.
- Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối c i, sau khi phạm tội bị cáo đ tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại đây là nh ng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, h, p kho n 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
T nh ng đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo lần đầu tiên phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết gi m nhẹ nên không cần thiết ph i cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội, để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng hình phạt c i tạo không giam gi cũng có tác dụng c i tạo giáo dục đối với bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ng a chung. Theo quy định tại kho n 3 Điều 31 Bộ luật Hình sự năm 1999 bị cáo còn bị khấu tr một phần thu nhập t 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng khấu tr thu nhập đối với bị cáo Lý Trần H là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại kho n 5 Điều 138 Bộ luật hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền t năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy r ng bị cáo và vợ hiện đang cư trú tại tiểu khu A, thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Thu nhập chỉ đủ để duy trì mức sống trung bình của gia đình. B n thân bị cáo không có tài s n riêng có giá trị ngoài các vật dụng thiết yếu trong gia đình. Do vậy, không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 máy tính DELL màu đen, 01 sạc máy tính DELL màu đen, 01 chuột máy tính không dây nh n hiệu Forter, 01 túi xách màu tím, 01 đôi giày thể thao nam màu trắng đen, 01 đôi giày n màu trắng đen, 01 đôi giày da nam màu nâu, 01 điện thoại di dộng nh n hiệu Samsung A8 là số tài s n bị cáo trộm cắp ngày 01/8/2017 của gia đình chị Nguyễn Thu C, Cơ quan c nh sát điều tra đ trao tr số tài s n trên cho chị Hoài là đúng quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Nh ng tài s n bị cáo trộm cắp ngày 01/8/2018 của gia đình chị Nguyễn Thu C không tìm thấy được, gồm: 08 đôi giày dép, 01 ví da màu nâu có chứa: 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh thư nhân dân, 01 th ATM mang tên Nguyễn Đình D, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Đức V, 01 sim điện thoại và số tiền kho ng 700.000VNĐ, ngày 25/12/2017 bị cáo Lý Trần H đ tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Thu C với tổng số tiền 10.000.000VNĐ là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Phùng Thị T: quá trình điều tra xác định T không biết chiếc điện thoại mà Lý Trần H đưa cho sử dụng là do trộm cắp mà có. Do đó, Cơ quan c nh sát điều tra Công an huyện Mai Sơn không đặt vấn đề xử lý đối với T. Cần chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo ph i chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ là phù hợp với kho n 1, 2 Điều 99 BLTTHS, Điều 21, điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qốc Hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lý Trần H phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
Áp dụng kho n 1 Điều 138; Điều 31; điểm b, h p kho n 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999:
Xử phạt bị cáo Lý Trần H 12 (Mười hai tháng c i tạo không giam gi . Thời hạn tính t ngày UBND thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La nhận được b n án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Lý Trần H cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là UBND thị trấn B, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong thời gian c i tạo không giam gi . Gia đình bị cáo Lý Trần H có trách nhiệm phối hợp với UBND thị trấn B trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lý Trần H.
Miễn việc khấu tr thu nhập đối với bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Áp dụng kho n 2 Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b kho n 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Chấp nhận việc Cơ quan c nh sát điều tra tr lại cho gia đình người bị hại Nguyễn Thu C 01 máy tính DELL màu đen, 01 sạc máy tính DELL màu đen, 01 chuột máy tính không dây nh n hiệu Forter, 01 túi xách màu tím, 01 đôi giày thể thao nam màu trắng đen, 01 đôi giày n màu trắng đen, 01 đôi giày da nam màu nâu, 01 điện thoại di dộng nh n hiệu Samsung A8.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo Lý Trần H đ tự nguyện bồi thường cho gia đình người bị hại Nguyễn Thu C tổng số tiền 10.000.000 VNĐ.
Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a kho n 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo ph i chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn .
Báo cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án (ngày 19/4/2018); Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nhận được b n án hoặc ngày b n án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Toà án tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - Viện KSND Mai Sơn ; - Viện KSND tỉnh Sơn La ; - Nhà tạm gi Công an huyện Mai Sơn ; - Công an huyện Mai Sơn ; - Chi cục THADS Mai Sơn ; - Bị cáo; - Người bị hại ; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu Hà |