- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Huy T và Dương Ngọc L.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 416/2017/HSPT Ngày: 18/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Anh Kiệt
Các Thẩm phán:
1/ Ông Phan Văn Liệt
2/ Ông Huỳnh Văn Trực
Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc – Cán bộ
Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.
Đại diện Vện kiểm sát nhân dân Tp.Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Võ Văn Thanh - Kiểm sát Vên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Hồ Chí Minh xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 225/2017/HSPT ngày 24/04/2017 đối với
các bị cáo Nguyễn Vũ Thùy V, Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N,
Dương Ngọc L do có kháng nghị của Vện kiểm sát nhân dân Quận 7, thành phố
Hồ Chí Minh và kháng cáo của các bị cáo Chu Huy T và Dương Ngọc L đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 14/03/2017 của Tòa án nhân dân
Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo bị kháng nghị:
1/ Phạm Văn N, giới tính: nam; sinh năm: 1990 tại tỉnh Vĩnh Phúc; trú tại:
Xóm V, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; tạm trú: Số 44/10E B, Phường 15, quận
C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; họ và
tên cha: Phạm Văn T sinh năm 1967, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị V sinh năm 1969;
có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/6/2016,
(có mặt tại phiên tòa).
2/ Hà Hùng Minh V1, tên gọi khác: Dương; giới tính: nam; sinh năm:
1982 tại tỉnh Bình Định; trú tại: Thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; tạm trú: Số 44/10E B, Phường 15, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; họ và tên cha: vô danh; họ và tên mẹ: Hà Thị S (đã chết); có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không;
Về nhân thân:
- Ngày 17/01/2001 của Toà án nhân dân huyện E, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 09
tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 12/HSST ngày 17/01/2001);
- Ngày 09/4/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 275/2009/HSST ngày 21/12/2009 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 192/2010/HSPT ngày 09/4/2010)
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/6/2016, (có mặt tại phiên tòa).
3/ Nguyễn Vũ Thùy V; tên gọi khác: Ni; giới tính: nam; sinh năm: 1994 tại
Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: 69/1 đường P, Phường 17, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; họ và tên cha: Nguyễn Vũ T sinh năm 1973, họ và tên mẹ: Hà Thị Thu V sinh năm 1976; có chồng (không đăng ký kết hôn), có 02 con (lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh ngày 28/10/2014); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2016 đến ngày 02/12/2016 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt tại phiên tòa).
Các bị cáo kháng cáo, bị kháng nghị:
4/ Chu Huy T, giới tính: nam; sinh năm: 1983 tại Thành phố Hà Nội; trú
tại: Thôn C, xã Hoàng L, huyện P, Thành phố Hà Nội; tạm trú: Số 44/10E B, Phường 15, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; họ và tên cha: Chu Huy T1 sinh năm 1956, họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T (đã chết); chưa có vợ con;
Tiền án:
- Ngày 16/3/2010, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/01/2013 (Bản án số 29/2010/HSST ngày 16/3/2010).
- Ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh bác
kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 433/2016/HSST ngày 22/9/2016 của
Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức xử phạt Chu Huy T 01 năm tù về tội Trộm cắp tài
sản. (Bản án số 690/2016/HSPT ngày 23/11/2016)
Về nhân thân:
Ngày 24/9/2008 của Toà án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 252/2008/HSST ngày
24/9/2008).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 20/5/2016, (có mặt tại phiên tòa).
5/ Dương Ngọc L; giới tính: nam; sinh năm: 1988 tại tỉnh Vĩnh Phúc; trú
tại: Thôn Ao Trạch, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; tạm trú: Số 44/10E B,
Phường 15, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn
hóa: 10/12; họ và tên cha: Dương Văn T sinh năm 1951, họ và tên mẹ: Đặng Thị
Đ sinh năm 1958; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không;
Về nhân thân:
(1) Ngày 25/9/2007, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12
tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 26/HSST ngày
25/9/2007).
(2) Ngày 26/7/2008 của Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt
09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 26/HSST
ngày 25/9/2007, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 09 tháng 09 ngày tù (Bản
án số 26/2008/HSST ngày 26/7/2008).
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04/6/2016, (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
1/ Ông Nguyễn Ngọc V; sinh năm 1995; Trú tại: xã N, huyện T, tỉnh Bình
Thuận; Tạm trú: 440/5 đường H, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
2/ Bà Đinh Thị Ngọc H; sinh năm 1995; Trú tại: 170 T, Phường 11, Thành
phố Đà Lạt; Tạm trú: 440/5 đường H, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng
mặt).
3/ Ông Võ Minh T; sinh năm 1993; Trú tại: Ấp 3, xã Mỹ Xuân, thị xã Gò
Công, Tỉnh Tiền Giang; Tạm trú: 440/5 đường H, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
4/ Ông Trịnh Văn Đ; sinh năm 1995; Trú Tại: Tổ 5, Thôn 6, xã N, huyện
Đ, tỉnh Bình Thuận; Tạm trú: 440/5 đường H, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
5/ Ông Đoàn Trung V; sinh năm 1995; Trú Tại: Tổ 5, Thôn 6, xã N, huyện
Đ, tỉnh Bình Thuận; Tạm trú: đường K, phường K, huyện T, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt).
Người có quyền lợi n vụ liên quan:
1/ Ông Trương Minh U; sinh năm 1973; Trú Tại: 340 Lô A, Chung cư A,
Phường V, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Tạm trú: Số 30, đường số Z phường Q, Quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Theo bản Cáo trạng của Vện kiểm sát nhân dân Quận X và Bản án hình sự
sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận X thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ 30 ngày 15/5/2016, Hà Hùng Minh V1 đến phòng trọ
của Chu Huy T (số 44/10E B, phường 15, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh) bàn và rủ T đi trộm cắp tài sản; nghe V1 nói chỗ đó có nhiều xe gắn máy, T liền nói Nguyễn Vũ Thùy V (là bạn gái của T) lên tìm Phạm Văn N, Dương Ngọc L (ở cùng khu nhà trọ) xuống bàn chuyện đi trộm cắp tài sản. Sau khi L và N xuống phòng, V1 đã bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho từng người, cụ thể như sau: Do trước đó V1 đã quan sát, biết một địa điểm khu nhà trọ bên Quận 7 có nhiều người để xe ngoài hành lang phòng trọ ban đêm, không ai trông coi. Cả nhóm V1, T, V, L, N sẽ cùng qua đó trộm cắp tài sản. Trong đó, V1, T và N sẽ đi vào dãy phòng trọ, V1 mở khóa cổng, N dùng dụng cụ phá khóa xe (còn gọi là đoản) do V1 chuẩn bị sẵn) mở khóa xe để T, V1 và N lấy xe ra, còn L và V đứng bên ngoài giữ xe, cảnh giới chờ lấy xong rồi cùng nhóm tẩu thoát; V1 biết chỗ bán và chịu trách nhiệm bán xe và sẽ chia tiền cho cả nhóm.
Bàn bạc xong, khoảng 02 giờ ngày 16/5/2016, L và N chở nhau trên 01 xe
gắn máy, V1, T, V đi trên 01 xe từ quận Csang Quận X để trộm cắp.
Khi đi đến số nhà 440/5 H, khu phố 2, phường B, Quận X là địa điểm đã
quan sát trước. Theo bàn bạc từ trước, V và L đứng ngoài cảnh giới, còn V1, T, N đi vào nhà trọ. V1 mở khóa cổng để cả 03 người cùng đi vào bên trong hành lang dãy nhà trọ. V1 đưa cho N một đoản phá khóa. N dùng đoạn phá khóa mở 03 xe
máy gồm xe Sirius biển số 49B1-238.36 của chị Đinh Thị Ngọc H; 01 xe gắn máy
hiệu Sirius biển số 86B8-129.63 của anh Trịnh Văn Đ; 01 xe gắn máy hiệu Wave
S biển số 63B6-129.81. V1, T, N mỗi người dắt một xe ra ngoài, nổ máy cùng L,
V tẩu thoát về quận U. V1 điện thoại cho một người thanh niên (không rõ lai lịch)
ra ngoài đường xem xe và bán 03 xe trộm cắp được giá 5.000.000 đồng, chia nhau
mỗi người được 1.000.000 đồng.
V1 nói L và V chở nhau về nhà trọ trước, V1, T và N tiếp tục quay lại nhà
440/5 Huỳnh Tấn Phát, khu phố 2, phường Bình Thuận, Quận 7 để trộm xe. Bằng
thủ đoạn như cũ, V1, T và N tiếp tục trộm cắp được xe gắn máy hiệu Vsion biển
số 81M-049.54 của anh Nguyễn Ngọc Vệt; 01 xe gắn máy hiệu Sirius biển số
86B8-279.44 của anh Đoàn Trung Vên mang sang Gò Vấp bán tiếp được
7.000.000 đồng. Chia nhau V1, T, N mỗi người 2.000.000 đồng, L và V mỗi
người 500.000 đồng.
Người bị hại phát hiện mất xe đã cùng chủ nhà trọ Uch xuất Camera ghi lại
hình ảnh các đối tượng trộm cắp tài sản, trình báo cơ quan Công an.
Quá trình điều tra truy xét và các tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an Quận X đã triệu tập Hà Hùng Minh V1, Phạm Văn N,
Dương Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V đến làm Vệc và V1, N, L, V đã khai nhận
toàn bộ hành V phạm tội. Chu Huy T bị Công an quận Thủ Đức bắt giữ trong một
vụ án khác cũng đã khai nhận hành V trộm cắp tài sản tại Quận X như đã nêu trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 14/03/2017 của Tòa án
nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương
Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g
Khoản 1 Điều 48; Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm
2009:
Xử phạt bị cáo Chu Huy T 04 (bốn) năm tù; tổng hợp với hình phạt của Bản
án số 690/2016/HSPT ngày 23/11/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 433/2016/HSST ngày
22/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận TĐ xử phạt Chu Huy T 01 năm tù về tội
Trộm cắp tài sản; buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 05
(năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2016.
2. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1; Khoản 2 Điều
46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
04/6/2016.
3. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật
Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
04/6/2016.
4. Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ
sung năm 2009; Điều 28, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Buộc từng bị cáo Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương Ngọc L, Hà Hùng
Minh V1, Nguyễn Vũ Thùy V bồi thường cho các bị hại, cụ thể Ông Đoàn Trung Vên 18.000.000 đồng, Ông Võ Minh T 6.000.000 đồng, Bà Đinh Thị Ngọc H 5.000.000 đồng, Ông Trịnh Văn Đ 12.000.000 đồng, Ông Nguyễn Ngọc V 30.000.000 đồng, ông Trương Minh U là người có quyền lợi và n vụ liên quan số tiền 17.000.000 đồng.
Ngày 28 tháng 03 năm 2017, Vện trưởng Vện kiểm sát nhân dân Quận X,
thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 14/03/2017 của Tòa án nhân dân Quận X đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm theo hướng:
1/Tuyên buộc các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N,
Dương Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường cho ông Đoàn Trung Vên 18.000.000 đồng, Trịnh Văn Đ 12.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc Vệt 30.000.000 đồng, Võ Minh T 6.000.000 đồng và Đinh Thị Ngọc H 5.000.000 đồng (Trách nhiệm bồi thường là như nhau);
2/Các bị cáo không phải trả tiền cho ông Trương Minh U;
3/Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa Vệt Tiệp;
4/Tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn N.
Đồng thời, ngày17/3/2017 và ngày 24/3/2017 các bị cáo Dương Ngọc L và
Chu Huy T xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát Vên và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 14/03/2017 của Tòa án
nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V về tội “Trộm
cắp tài sản” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là có
căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/3/2017 Vện trưởng Vện kiểm sát nhân dân
Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử lại vụ án theo hướng: Tuyên buộc các bị cáo Hà Hùng Minh V1,
Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V phải liên đới chịu
trách nhiệm bồi thường cho ông Đoàn Trung Vên 18.000.000 đồng, Trịnh Văn Đ
12.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc Vệt 30.000.000 đồng, Võ Minh T 6.000.000 đồng
và Đinh Thị Ngọc H 5.000.000 đồng (Trách nhiệm bồi thường là như nhau); Các
bị cáo không phải trả tiền cho ông Trương Minh U; Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa
Vệt Tiệp; tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn N.
Đồng thời, vào các ngày 17/3/2017 và ngày 24/3/2017 các bị cáo Dương
Ngọc L và Chu Huy T xin giảm nhẹ hình phạt. Xét đơn kháng cáo của các bị cáo
được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, nghĩ nên chấp nhận để xem xét giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng nghị của Vện trưởng Vện kiểm sát nhân dân Quận X, Hội đồng
xét xử cấp phúc thẩm xét thấy:
1/ Đối với kháng nghị về phần trách nhiệm dân sự của vụ án: Hội đồng xét
xử xét thấy, trong vụ án này những người bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường
thiệt hại do hành V phạm tội của các bị cáo gây ra, cụ thể: ông Đoàn Trung Vên
yêu cầu bồi thường 18.000.000 đồng, ông Võ Minh T yêu cầu bồi thường
6.000.000 đồng, bà Đinh Thị Ngọc H yêu cầu bồi thường 5.000.000 đồng, ông
Trịnh Văn Đ yêu cầu bồi thường 12.000.000 đồng, ông Nguyễn Ngọc Vệt yêu
cầu bồi thường 30.000.000 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 71.000.000 đồng. Hội
đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy đây là vụ án “Trộm cắp tài sản” có tính chất
đồng phạm do các bị cáo gây ra, khi thực hiện hành V phạm tội các bị cáo có sự
phân công phân nhiệm rõ ràng. Vì vậy các bị cáo phải có nghĩa vụ liên đới bồi
thường thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại, nghĩa vụ bồi thường là như nhau.
Do đó, xét kháng nghị của Vện trưởng Vện Kiểm sát nhân dân Quận X về vấn đề
này là có căn cứ, nghĩ nên chấp nhận. Các bị cáo phải liên đới bồi thường số tiền
71.000.000 đồng cho các người bị hại, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường
14.200.000 đồng.
2/ Riêng đối với ông Trương Minh U là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan trong vụ án, trước đây đã tự nguyện bồi thường hỗ trợ cho các bị cáo số tiền
17 triệu đồng để hoàn trả lại cho các bị hại, cụ thể bồi thường cho bà Đinh Thị
Ngọc H 05 triệu đồng, ông Võ Minh T 05 triệu đồng, ông Nguyễn Ngọc Vệt 07
triệu đồng. Tuy nhiên, ngày 13/3/2017 ông Trương Minh U có đơn yêu cầu buộc
các bị cáo phải liên đới hoàn trả lại số tiền 17 triệu đồng cho ông U (Bút lục 367).
Xét đây là yêu cầu hợp pháp và có căn cứ. Do vậy cần buộc các bị cáo Hà Hùng
Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại số tiền 17 triệu đồng cho ông U, cụ thể mỗi bị cáo phải hoàn trả lại số tiền 3.400.000 đồng. Do vậy, không chấp nhận kháng nghị của Vện kiểm sát nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh về Vệc đề nghị các bị cáo không phải trả tiền cho ông Trương Minh U.
3/ Đối với kháng nghị đề nghị tịch thu 01 ổ khóa Vệt Tiệp: Hội đồng xét xử
xét thấy đây là vật chứng của vụ án thu giữ ở nhà trọ số 440/5 Huỳnh Tấn Phát, Phường Bình Thuận, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã có đính chính vấn đề này tại Thông báo đính chính số 04/2017/TBBS-HS ngày 27/3/2017 (Bút lục 418). Tuy nhiên tại Biên bản nghị án (Bút lục từ 394 -397) chưa được Hội đồng xét xử thông qua Vệc tịch thu tiêu hủy đối với 01 ổ khóa Vệt Tiệp. Do vậy, thông báo bổ sung, đính chính bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là không có căn cứ. Cần chấp nhận kháng nghị của Vện Kiểm sát nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh, sửa án sơ thẩm, tịch thu tiêu hủy đối với 01 ổ khóa Vệt Tiệp là vật chứng thu giữ trong vụ án.
4/ Về kháng nghị đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn N: Hội
đồng xét xử xét thấy, bị cáo Phạm Văn N tham gia vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức, bản án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 02 năm tù là có căn cứ và thỏa đáng. không cần thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo. Vì vậy, không chấp nhận kháng nghị của Vện Kiểm sát nhân dân Quận X, thành phố Hồ Chí Minh về Vệc tăng hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn N.
Đối với bị cáo Chu Huy T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: về nhân thân ngày 16/3/2010 bị Tòa
án nhân dân Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong ngày 28/01/2013 (Bị cáo chưa nộp phần án phí và bồi thường dân sự). Đến này 23/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo phạm tội thuộc trường tái phạm và khi xét xử bị cáo phải chịu hình phạt tổng hợp của nhiều bản án, xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều tiền án. Mức án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 04 năm tù là có căn cứ. Nay, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Chu Huy T.
Đối với bị cáo Dương Ngọc L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Do bị cáo có nhân thân xấu, 02 lần bị cáo bị cáo bị Tòa án nhân dân cấp
tỉnh xét xử, đến nay đã được xoa án tích. Lần này tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nhà nước, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Dương Ngọc L.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 248; điểm d khoản 1 khoản 3 Điều 249 của
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Huy T và Dương Ngọc L.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Vện kiểm sát nhân dân Quận X thành phố
Hồ Chí Minh, sửa Bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Các bị cáo Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương Ngọc L cùng
phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1 Điều 46; Điểm g
Khoản 1 Điều 48; Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm
2009:
Xử phạt bị cáo Chu Huy T 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp với hình phạt
01(Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của Bản án số 690/2016/HSPT ngày
23/11/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo chấp hành
hình phạt chung của hai bản án là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
20/5/2016.
2. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1; Khoản 2 Điều
46 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
04/6/2016.
3. Áp dụng Điểm a, e Khoản 2 Điều 138; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật
Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009:
Xử phạt bị cáo Dương Ngọc L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày
04/6/2016.
Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009; Điều 587;
Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015:
Buộc các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương
Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 14.200.000 (
Mười bốn triệu, hai trăm ngàn) đồng để giải quyết yêu cầu bồi thường cho:
1/ Ông Đoàn Trung Vên 18.000.000 (mười tám triệu) đồng,
2/ Ông Võ Minh T 6.000.000 (sáu triệu) đồng,
3/ Bà Đinh Thị Ngọc H 5.000.000 (năm triệu) đồng,
4/ Ông Trịnh Văn Đ 12.000.000 (mười hai triệu) đồng,
5/ Ông Nguyễn Ngọc V 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng
Buộc các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Chu Huy T, Phạm Văn N, Dương
Ngọc L, Nguyễn Vũ Thùy V, mỗi bị cáo phải bồi thường số tiền 3.400.000 ( Ba triệu, bốn trăm ngàn) đồng để giải quyết yêu cầu bồi thường cho Ông Trương Minh U 17.000.000 (Mười bảy triệu) đồng.
Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009; điểm đ
khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003:
Tịch thu tiêu hủy: 01 ổ khóa Vệt Tiệp. (Theo biên bản về Vệc giao nhận vật
chứng, tài sản số 08 ngày 14/10/2016).
Các bị cáo Chu Huy T, Dương Ngọc L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng
án phí hình sự phúc thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Các bị cáo Hà Hùng Minh V1, Phạm Văn N, Nguyễn Vũ Thùy V mỗi bị
cáo phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM;(1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND Q.X; (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Trại giam; (4) - Bị cáo; (5) - Chi cục THA Q.X; (1) - TAND Q.X; (2) - Công an Q.X; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (5) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (35) (4) | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Huỳnh Anh Kiệt |