- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Vĩnh T - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (điều 174 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt b cáo Thái Vĩnh T 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 415/2022/HS-PT Ngày: 26/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Thi
Các thẩm phán:
Ông Phạm Việt Cường
Ông Nguyễn Tấn Trường
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 319/2022/TLPT-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với b cáo Thái Vĩnh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và các b cáo Nguyễn Văn Th; Nguyễn Huỳnh Minh T3 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Do có kháng cáo của các b cáo đối với Bản án hình sự s thẩm số 26/2022/HSST ngày 19/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
1. B cáo: Thái Vĩnh T, sinh ngày 20/8/1958 tại huyện V, tỉnh Quảng Tr ; N i đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 69, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; N i cư trú: Số 10, đường P, phường 1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tr ; nghề nghiệp: Hưu trí (nguyên Giám đốc Chi nhánh miền Trung - Binh đoàn 12 thuộc Tổng công ty xây dựng TS, nghỉ hưu tháng 9/2013); trình độ học vấn: 10/10; Thái độ chính tr : Đảng viên (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng tại Quyết định số 41-QĐ/UBKTTƯ ngày 06/01/2020 của UBKT Quận ủy S - Đà Nẵng); dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; con ông Thái Vĩnh X (chết) và bà Trần Th S1 (chết); có vợ Phan Th Th1, sinh năm 1961 và 02 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; b cáo b C quan điều tra hình sự Quân khu 4 đang khởi tố, điều tra về các tội: “Giả mạo chức vụ, cấp bậc công tác”; “Làm giả, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại một vụ án khác; b bắt tạm giam từ ngày 29/5/2020 đến nay, hiện đang b tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình. 2. B cáo: Nguyễn Văn Th, sinh ngày 04/4/1959 tại huyện L, tỉnh Quảng Bình; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 2, phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Hưu trí (Nguyên Giám đốc Ban QLDA, nghỉ hưu tháng 5/2019); Trình độ học vấn: 10/10; Thái độ chính tr : Đảng viên (đã bị xử lý kỷ luật, khai trừ đảng tại quyết định số 1930-QĐ/TU ngày 26/12/2019 của Ban thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình); dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T1 (chết) và bà Nguyễn Th L (chết); có vợ Huỳnh Th Minh H, sinh năm 1962 và 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; b cáo b C quan điều tra hình sự Công an tỉnh Quảng Bình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử về hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” tại một vụ án khác. B cáo b áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. 3. B cáo: Nguyễn Huỳnh Minh T3, sinh ngày 07/7/1991 tại tỉnh Quảng Bình; N i đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc t ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1959 và bà Huỳnh Th Minh H, sinh năm 1962; có vợ Đặng Th B, sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; b cáo b áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Người bào chữa cho bị cáo Thái Vĩnh T: Ông Võ Ngọc M, sinh năm 1958, luật sư Văn phòng luật sư TP; đ a chỉ: Số 4, đường B2, phường 5, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tr , có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Th: 1. Ông Võ Ngọc M, sinh năm 1958, luật sư Văn phòng luật sư TP; đ a chỉ: Số 4, đường B2, phường 5, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tr , có mặt 2. Ông Nguyễn Trường T2, sinh năm 1961, luật sư Văn phòng luật sư V1; đ a chỉ: 58C đường H1, phường TB, quận N2, thành phố Cần Th . vắng mặt 3. Ông Võ Bá H2, luật sư Văn phòng luật sư M1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Bình; đ a chỉ: phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3: 1. Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1959, luật sư Công ty Luật TNHH IMC; đ a chỉ: Thành phố Hà Nội, có mặt 2. Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1962, luật sư Công ty Luật TNHH IMC; đ a chỉ: Thành phố Hà Nội. có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Văn S2; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: phường Đ3, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
2. Nguyễn Anh T3; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 4, phường Bắc Lý, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
3. Trư ng Tấn L; n i đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố 2, phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt
- Người giám định: Ông Nguyễn Phước K; Giám đ nh viên Tư pháp - phó Chánh Thanh tra - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình; đ a chỉ: thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, có mặt
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T3; đ a chỉ: thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình, có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, nội dung vụ án được xác định như sau:
Gói thầu DH/NT.03 rà phá bom mìn, vật nổ có diện tích 6,2 ha thuộc Công trình xây dựng nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2 (sau đây gọi là gói thầu DH/NT.03) được UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt tại Quyết đ nh số 4522/QĐ-UBND ngày 12/12/2017, giao cho Ban quản lý dự án Môi trường và biến đổi khí hậu thành phố Đ2 (sau đây gọi là BQLDA) thực hiện quản lý dự án. Biết được thông tin về gói thầu, ông Thái Vĩnh T nguyên Giám đốc Chi nhánh Miền Trung thuộc Tổng công ty xây dựng TS (nghỉ hưu từ tháng 9/2013) liên hệ với BQLDA xin thực hiện gói thầu. Ngày 13/12/2017, BQLDA có Công văn số 333c/CV-QLDA đề ngh Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Bộ Quốc phòng chỉ đ nh các đ n v thực hiện rà phá bom mìn vật nổ, ông Thái Vĩnh T trực tiếp nhận công văn chuyển cho Bộ Tư lệnh Quân khu 4. Ngày 13/12/2017, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 có Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL về việc tổ chức thực hiện công tác khảo sát, lập phư ng án, dự toán và thi công rà phá bom mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03. Trong đó, giao cho Kho K77 Công binh - Quân khu là đ n v khảo sát, lập phư ng án kỹ thuật thi công dự toán và giao cho Tổng Công ty Xây dựng TS là đ n v thi công gói thầu. Quyết đ nh này Thái Vĩnh T nhận trực tiếp từ Bộ Tư lệnh Quân khu 4 để chuyển đến cho BQLDA. Trước khi chuyên cho BQLDA, T đã thuê d ch vụ làm giả văn bản thay đổi một số nội dung khác với nội dung của văn bản thật. Cụ thể: Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL ngày 13/12/2017 của Bộ Tư lệnh Quân khu 4 được thay đổi nội dung từ giao cho Kho K77 Công binh - Quân khu là đ n v khảo sát, lập phư ng án kỹ thuật thi công và dự toán thành “Giao cho Tổng công ty xây dựng TS thực hiện cả công tác khảo sát, lập phư ng án kỹ thuật, dự toán và thi công rà phá bom mìn,vật nổ”. Đồng thời thêm nội dung “C quan chủ nhiệm Công binh - Quân khu 5 giám sát chất lượng thi công rà phá bom mìn, vật nổ”. Thực hiện Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL (QĐ đã b T thay đổi), ngày 13/12/2017, BQLDA có văn bản số 28/TTR-KHKT đề ngh Tổng Công ty xây dựng TS dự thảo Hợp đồng khảo sát, lập phư ng án, dự toán rà phá bom mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03. Trong ngày 14/12/2017, BQLDA (Nguyễn Văn Th- Giám đốc) và Trung tâm rà phá bom mìn vật nổ TS thuộc Tổng Công ty xây dựng TS (do Thái Vĩnh T mạo danh Giám đốc) ký hợp đồng đối với hạng mục khảo sát, lập phư ng án, dự toán rà phá bom mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03 với giá tr Hợp đồng là 23.000.000 đồng. Ngày 19/12/2017, BQLDA ký Hợp đồng tư vấn giám sát với C quan chủ nhiệm Công binh - Quân khu 5, giá tr hợp đồng 7.669.000 đồng. Nguyễn Văn Th ký hợp đồng trên bản hợp đồng đã có chữ ký, đóng dấu sẵn của đ n v C quan chủ nhiệm Công binh - Quân khu 5 do Thái Vĩnh T thuê d ch vụ làm giả. Trong khi đó, căn cứ Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL của Bộ tư lệnh quân khu 4 (Quyết đ nh thật), Kho K77 Công binh - Quân khu đã tiến hành khảo sát, lập phư ng án kỹ thuật thi công và dự toán trình Bộ tham mưu Quân khu 4 thẩm đ nh. Ngày 15/12/2017, Bộ Tham mưu Quân khu 4 có báo cáo kết quả thẩm đ nh số 2346/BC-BTM trình Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phê duyệt. Ngày 20/12/2017, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 ban hành Quyết đ nh số 2560/QĐ-BTL về việc phê duyệt phư ng án kỹ thuật thi công và phê duyệt kết quả thẩm đ nh dự toán với giá tr 455.205.000 đồng. Các văn bản này cũng được giao trực tiếp cho Thái Vĩnh T nên T lại tiếp tục thuê d ch vụ làm giả văn bản thay đổi một số nội dung khác với nội dung của văn bản thật, cụ thể thay đổi phần nội dung phư ng án kỹ thuât thi công và nâng giá tr dự toán từ 455.205.000 đồng lên 822.962.000 đồng và nộp tất cả những tài liệu làm giả này cho Ban QLDA để xin tham gia dự thầu. Ngày 18/12/2017, Ban QLDA có Quyết đ nh số 136a/QĐ-QLDA về việc thành lập Tổ thẩm đ nh gồm: Trư ng Tấn L, Nguyễn Văn T3 và Hoàng Thanh Th3; Quyết đ nh số 137a/QĐ-QLDA về việc thành lập Tổ chuyên gia xét thầu gồm: Nguyễn Anh T3, Nguyễn Huỳnh Minh T3, Lê Văn S2. Trên c sở Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL của Bộ tư lệnh Quân khu 4 (QĐ đã b T thay đổi nội dung): Phòng Kế hoạch kỹ thuật BQLDA lập Hồ s yêu cầu cho gói thầu DH/NT.03. Tổ chuyên gia xét thầu có Tờ trình số 01/TTr-TCG về việc đề ngh phê duyệt Hồ s yêu cầu và chỉ đ nh nhà thầu nhận Hồ s yêu cầu gói thầu DH/NT.03, Nguyễn Anh T3 - Tổ trưởng ký; Tổ Thẩm đ nh có báo cáo số 01/TĐ-HSYC với nội dung “Đồng ý với hồ s yêu cầu do Phòng KHKT xây dựng”. Ngày 21/12/2017, BQLDA có Quyết đ nh số 144a/QĐ-QLDA về việc phê duyệt Hồ s yêu cầu và chỉ đ nh Nhà thầu nhận hồ so yêu cầu đối với Tổng Công ty xây dựng TS. Ngày 25/12/2017, Thái Vĩnh T mang hồ s dự thầu nộp trực tiếp tại phòng Hành chính tổng hợp (viết tắt HCTH) BQLDA, việc đóng mở thầu thực hiện cùng ngày. Tổ chuyên gia xét thầu tiến hành đánh giá hồ s đề xuất, mặc dù tài liệu chứng minh tư cách ủy quyền cua Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn vật nổ TS là không hợp pháp, tài liệu chứng minh năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu không có căn cứ (báo cáo tài chính, hợp đồng tư ng tự chưa được chứng thực), chấp nhận một đ n v vừa lập phư ng án kỹ thuật, dự toán, vừa thi công rà phá bom mìn là không đảm bảo cạnh tranh trong đấu thầu, hồ s đề xuất không có đề xuất về mặt kỹ thuật, không tuân thủ phư ng án kỹ thuật đã được Bộ Tư lệnh Quân khu 4 phê duyệt, nhưng Nguyễn Anh T3, Nguyễn Huỳnh Minh T3 và Lê Văn S2 đều có phiếu đánh giá chấm đạt tất cả các nội dung và lập báo cáo trình lãnh đạo BQLDA đàm phán Hợp đồng với Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ TS (Tờ trình số 02/TTr-TCG ngày 27/12/2017). Tổ thẩm đ nh có Báo cáo thẩm đ nh số 02/BCTĐ thống nhất với kết quả đánh giá lựa chọn nhà thầu của Tổ chuyên gia xét thầu. Trên c sở đó, BQLDA có Quyết đ nh số 165/QĐ-QLDA phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và Thông báo trúng thầu số 363/TB-QLDA với giá đề ngh trúng thầu là: 612.522.715 đồng đối với Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn, vật nồ TS thuộc Tổng Công ty Xây dựng TS.
Ngày 02/02/2018, BQLDA ký Hợp đồng rà phá bom mìn gói thầu DH/NT.03 với Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ TS (do ông T mạo danh Giám đốc) với giá hợp đồng: 612.522.715 đồng, thời gian thực hiện họp đồng 01 tháng, sau đó được gia hạn 04 tháng kể từ ngày ký hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng, Thái Vĩnh T liên hệ ông Phùng Mạnh L1, công tác tại Trung tâm hành động bom mìn tỉnh Quảng Tr nhờ thi công, ông L1 đã liên hệ ông Nguyễn Ngọc M1 (trú tại xã A, huyện Quảng Ninh, cán bộ huyện đội nghỉ hưu) và ông M1 đã gọi thêm các ông: Trần Công T4, Từ Công N4, Nguyễn Ngọc M1, Lê Công A1 đều trú tại xã A, huyện Quảng Ninh và ông Nguyễn Văn Ng trú tại xã HT, huyện L (đều không có các chứng chỉ, năng lực về rà phá bom mìn) thi công trên hiện trường khoảng 09 ngày vào đầu tháng 5/2018, hiện không có c sở để xác đ nh chi phí thi công là bao nhiêu (Thái Vĩnh T khai đã chi 60.000.000 đồng cho ông Phùng Mạnh L1 và ông Nguyễn Ngọc M1 nhưng không có tài liệu gì để chứng minh, ông L1 và ông M1 không thừa nhận đã nhận số tiền này mà chỉ làm giúp Thái Vĩnh T).
Sau khi thi công xong, Thái Vĩnh T tiếp tục thuê d ch vụ làm giả nhật ký thi công, hồ s hoàn công, hồ s nghiệm thu và có công văn đề ngh BQLDA thanh toán hợp đồng. Trư ng Tấn L được phân công kiểm tra hồ s nghiệm thu đề ngh thanh toán. Tại các biên bản bàn giao mặt bằng để thi công đề ngày 03/5/2018, Biên bản bàn giao mặt bằng đã rà phá bom mìn và Biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công trình để đưa vào sử dụng ngày 14/5/2018 đều ghi đại diện chủ đầu tư là ông Trư ng Tấn L - Phó giám đốc, nhưng Trư ng Tấn L không ký, L cũng không tham gia các công việc ghi trong biên bản. Hồ s cũng chưa có tài liệu chứng minh đã hủy nổ bom mìn, vật nổ thu được. Tuy vậy, Trư ng Tấn L đã ký Bảng tổng hợp khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề ngh thanh toán ngày 21/5/2018 (phụ lục 03a) và ngày 29/5/2018 Trư ng Tấn L ký Tờ trình số 05/TTr-BQLDA đề ngh Giám đốc BQLDA phê duyệt thanh toán hợp đồng gói thầu rà phá bom mìn số tiền 581.896.579 đồng. Ngày 21/5/2018, Nguyễn Văn Th ký Biên bản thanh lý hợp đồng rà phá bom mìn với số tiền 612.522.715 đồng với Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn vật nổ TS do ông T mạo danh ký. Ngày 07/6/2018, ông Lê Đức Mần - Kế toán trưởng B QLDA đã tham mưu cho Giám đốc BQLDA lập thủ tục rút vốn đầu tư, đề ngh Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Bình thanh toán cho Tổng Công ty Xây dựng TS các hợp đồng khảo sát, lập phư ng án dự toán số tiền 23.000.000 đồng và thi công rà phá bom mìn, vật nổ số tiền 581.896.579 đồng qua số tài khoản 112000182780 tại Ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đà Nẵng mang tên Tổng Công ty Xây dựng TS, tài khoản này do Thái Vĩnh T lập giả, mạo danh Tổng Công ty Xây dựng TS. Sau khi tiền chuyển vào tài khoản trên, Thái Vĩnh T đã chiếm đoạt toàn bộ. Tại bản kết luận giám đ nh số 760/PC09(GĐ), ngày 19/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình đã kết luận: Tất cả các giấy tờ, tài liệu Thái Vĩnh T sử dụng để tham gia dự thầu, trúng thầu, thi công và thanh toán gói thầu DH/NT.03 đều do Thái Vĩnh T làm giả. Tại các bản Kết luận Giám đ nh số 02/KLGĐ-KHĐT ngày 20/02/2020 và Kết luận giám đ nh bổ sung số 100/KLGĐ-KHĐT, ngày 20/4/2020 của Giám đ nh viên tư pháp Nguyễn Phước K đối với hồ s Gói thầu DH/NT.03 kết luận: Chủ đầu tư, đ n v giám sát, đ n v thi công chưa tuân thủ đầy đủ các quy đ nh của pháp luật trong quá trình triển khai gói thầu ĐH/NT.03 cụ thể: Chủ đầu tư ký kết hợp đồng không đúng với đ n v Tư vấn thiết kế được Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ đ nh tại Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL; Hồ s yêu cầu của gói thầu do Chủ đầu tư lập bỏ nhiều yêu cầu, biểu mẩu so với mẩu hồ s yêu cầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, một số yêu cầu nhân sự, thiết b thi công chưa phù hợp với gói thầu, yêu cầu kỹ thuật không rõ ràng, hồ s yêu cầu chưa xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật, khối lượng chào thầu b thiếu so với khối lượng đã được phê duyệt. Nội dung hồ s yêu cầu chưa phù hợp v i Thông tư số 11/2015/TT-BLHĐT và nội dung gói thầu; Quá trình chấm thầu Chủ đầu tư không phát hiện ra sai sót c bản trong hồ s đề xuất của nhà thầu như tên đ n v dự thầu không đúng với tên đ n v được chỉ đ nh, báo cáo tài chính hợp đồng tư ng tự chưa được chứng thực theo quy đ nh, bảng tổng hợp giá dự thầu không đúng mẫu, không có chử ký, đóng dấu của nhà thầu. Hồ s đề xuất không có đề xuất kỹ thuật nhưng chủ đầu tư vẫn chấm đạt. Lấy năng lực kinh nghiệm của Tổng Công ty TS để đánh giá cho Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ TS; Công tác thẩm đ nh không phát hiện được các sai sót trong quá trình lập hồ s yêu cầu và đánh giá hồ s đề xuất; Ký kết hợp đồng thi công không đúng đ n v được Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chỉ đ nh tại Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL. Ký Hợp đồng với một đ n v vừa thiết kế vừa thi công chưa phù hợp với quy đ nh; Công tác giám sát, nghiệm thu chưa phù hợp với quy đ nh của pháp luật. Chủ đầu tư chưa kiểm tra năng lực của đ n v giám sát, đ n v thi công trước khi khởi công xây dựng. Nhà thầu bố trí thiếu nhân sự, thiết b tham gia thi công như Quyết đ nh phê duyệt. Nghiệm thu kỹ thuật không tiến hành kiếm tra xác xuất hiện trường. Chủ đầu tư không ký xác nhận vào biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình. Không có tài liệu thể hiện đã hủy nố bom đạn tìm đựợc trong quá trình rà phá; Chủ đầu tư ký kết hợp đồng với đ n vi tư vấn lập hồ s phư ng án kỹ thuật - dự toán không có tư cách pháp nhân, không có năng lực lập phư ng án khảo sát - dự toán theo quy đ nh. Hồ s phư ng án kỹ thuật và dự toán đã dùng để thực hiện gói thầu còn có nhiều sai sót; Hợp đồng tư vấn lập phư ng án kỹ thuật - dự toán mà Chủ đầu tư đã ký kết vượt giá tr thực tế 10.296.598 đồng. Hợp đồng thi công rà phá bom mìn mà Chủ đầu tư đã ký vượt giá tr thực tế 176.327.565 đồng. Hai hợp đồng đã ký vượt giá tr thực tế 186.669.136 đồng; Chủ đầu tư ký kết hợp dồng thi công rà phá bom mìn với đ n v không có tư cách pháp nhân, không có năng lực thi công rà phá bom mìn. Nhân sự thi công gói thầu không đúng tiêu chuẩn theo quy đ nh, không có máy móc thiết b chuyên dụng, thi công không tuân thủ phư ng án kỹ thuật được phê duyệt. Việc khối lượng thi công như trong hợp đồng là không khả thi; Quá trình triến khai thi công tại hiện trường không được kiểm tra, giám sát, giám đ nh theo quy đ nh. Với giả thiết chất lượng hồ s lập phư ng án kỹ thuật - dự toán đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, Chủ đầu tư đã thanh toán vượt giá tr thực tế 10.296.598 đồng. Giả thiết đ n v thi công hoàn thành khối lượng công trình đáp ứng yêu cầu kỹ thuật thì Chủ đầu tư đã thanh toán vượt giá tr thực tế 145.719.429 đồng. Tổng cộng số tiền thanh toán vượt giá tr thực tế là 156.016.027 đồng.
Từ những nội dung đã được xác định nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2022/HSST ngày 19/6/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Thái Vĩnh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Nguyễn Huỳnh Minh T3 phạm tội „Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Về điều luật áp dụng và hình phạt.
Đối với bị cáo Thái Vĩnh T: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm s, v khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Thái Vĩnh T 10 (Mười) năm tù, thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo Thái Vĩnh T trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Th: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 360, các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3: Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 360, điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3. Giao bị cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 cho Ủy ban nhân dân phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự Ngoài ra, Bản án s thẩm còn quyết đ nh về tội danh và hình phạt đối với các b cáo Trư ng Tấn L (36 tháng cải tạo không giam giữ), Nguyễn Anh T3 (30 tháng cải tạo không giam giữ), Lê Văn S2 (24 tháng cải tạo không giam giữ); quyết đ nh về hình phạt bổ sung; trách nhiệm bồi thường dân sự; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy đ nh của pháp luật. Sau khi xét xử s thẩm, các b cáo Thái Vĩnh T, Nguyễn Văn Th, Nguyễn Huỳnh Minh T3 có đ n kháng cáo đối với Bản án s thẩm. Nội dung kháng cáo của b cáo Thái Vĩnh T cho rằng: Vụ án liên quan đến thẩm quyền của các c quan tiến hành tố tụng trong quân đội nhưng b tách nhỏ ra để xét xử là chồng chéo, gây bất lợi cho b cáo, việc thực hiện hợp đồng rà phá bom mìn đã đảm bảo thực hiện dự án an toàn, không xảy ra hậu quả thiệt hại cho chủ đầu tư, không có hành vi lừa đảo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm áp dụng biện pháp tố tụng phù hợp và giảm nhẹ hình phạt cho b cáo. Nội dung kháng cáo của các b cáo Nguyễn Văn Th và b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 cho rằng việc xét xử vụ án không đúng thẩm quyền, giám đ nh tư pháp trong vụ án không đúng pháp luật, xác đ nh tư cách tố tụng không đúng, hợp đồng gói thầu DH/NT 03 không có hậu quả thiệt hại, Bản án s thẩm tuyên xử không đúng pháp luật, các b cáo không có hành vi phạm tội thiếu trách nhiệm, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án s thẩm theo đúng quy đ nh của pháp luật. Tại phiên toà phúc thẩm các b cáo giữ nguyên kháng cáo. Kiểm sát viên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy đ nh của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội, tội phạm của từng b cáo, Kiểm sát viên đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo, xác đ nh lại đúng hậu quả thiệt hại, sửa Bản án s thẩm, giảm nhẹ mức án của từng b cáo phù hợp theo điều luật, khung hình phạt cho các b cáo, kể cả các b cáo không có kháng cáo. (Có bài phát biểu cụ thể kèm theo hồ sơ vụ án)
Các luật sư trình bày luận cứ bào chữa cho các b cáo:
- Luật sư Võ Ngọc M bào chữa cho b cáo Thái Vĩnh T và b cáo Nguyễn Văn Th, Luật sư Võ Bá H2 bào chữa cho b cáo Nguyễn Văn Th trình bày: Cho rằng Tòa án nhân dân tình Quảng Bình xét xử xụ án là không đúng thẩm quyền, hành vi phạm tội của Thái Vĩnh T thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, việc giám đ nh thiệt hại trong vụ án không đúng quy đ nh của pháp luật, xác đ nh tư cách tố tụng không đúng, quá trình giải quyết vụ án có nhiều vi phạm tố tụng và áp dụng pháp luật không đúng, do vậy, đề ngh Hội đồng xét xử hủy Bản án s thẩm, chuyển hồ s đến các c quan tiến hành tố tụng của Quân khu 4 để giải quyết vụ án theo thẩm quyền.
- Các Luật sư: Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Văn O bào chữa cho b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 trình bày luận cứ cho rằng: Về tố tụng cũng giống như các Luật sư sư Võ Ngọc M và Luật sư Võ Bá H2 đã trình bày, đối với b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 không có hành vi phạm tội „Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, quá trình giải quyết vụ án có nhiều vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề ngh Hội đồng xét xử hủy Bản án s thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án, đã được xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên toà. Xem xét kháng cáo của các b cáo xét thấy:
. Về tố tụng:
. Xem xét về thẩm quyền xét xử: B cáo Thái Vĩnh T nguyên cấp hàm đại tá – Giám đốc Chi nhánh Miền trung thuộc Tổng công ty xây dựng TS là một quân nhân đã nghỉ hưu từ năm 2013, do biết được thông tin về Dự án xây dựng nghĩa trang xã B3, do UBND tỉnh Quảng Bình là chủ đầu tư phê duyệt giao cho Ban quản lý dự án môi trường và biến đổi khí hậu thành phố Đ2 (Viết tắt BQLDA) thực hiện trong đó có gói thầu DH/NT. 03 về rà phá bom mìn vật nổ, b cáo Thái Vĩnh T đã có hành vi thuê người tẩy xóa, chỉnh sửa làm thay đổi một số nội dung trong Quyết đ nh 2493/QĐ-BTL ngày 13/12/2017 của Bộ tư lệnh quân khu 4 và thuê người làm giả con dấu của Trung tâm dò tìm, xử lý bom mìn thuộc Tổng công ty xây dựng TS. Các hành vi trên có ảnh hưởng đến danh dự uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam nên đã được các c quan tiến hành tố tụng hình sự của Quân khu 4 khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử theo quy đ nh của pháp luật. Đối với hành vi có dấu hiệu tội phạm được đưa ra xét xử trong vụ án này là các hành vi“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là những hành vi phạm tội độc lập, đối với gói thầu DH/NT.03 về rà phá bom mìn, vật nổ, xảy ra tại Quảng Bình, đã được C quan điều tra Công an tỉnh Quảng Bình khởi tố, điều tra trước, không liên quan đến Quân đội cũng như các tội danh mà C quan điều tra Quân khu 4 đã khởi tố, điều tra đối với Thái Vĩnh T, mặc khác, tại thời điểm Tòa án nhân tỉnh Quảng Bình xét xử về hành vi“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với gói thầu DH/NT.03 thì tại Tòa án Quân sự Quân khu 4 cũng chưa xem xét gì về hành vi phạm tội đối với gói thầu nêu trên, do vậy, không có việc một hành vi phạm tội b xét xử hai lần như b cáo T và các Luật sư nêu trong trong quá trình tranh tụng. Tuy C quan điều tra hình sự Quân khu 4 có công văn số 142/ĐTHS-ĐTV ngày 14/5/2021 đề ngh C quan điều tra Công an tỉnh Quảng Bình chuyển vụ án, nhưng qua công tác phối hợp, xác đ nh hành vi, tính chất, phạm tội của b cáo T, đ a bàn xảy ra vụ án, sự liên quan các b cáo khác và b hại đều không phải là người trong quân đội, tại Bản án s thẩm đã xem xét, nhận đ nh đầy đủ về thẩm quyền, vụ án không thuộc trường hợp có tranh chấp về thẩm quyền. Như vậy, các c quan tiến hành tố tụng của tỉnh Quảng Bình khởi tố, truy tố và xét xử đối với vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy đ nh tại khoản 2, Điều 268; Điều 269; Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự. [1.2] Về tư cách tham gia tố tụng: Theo quyết đ nh số 4522/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của UBND tỉnh Quảng Bình về việc phê duyệt giao cho Ban quản lý Môi trường và Biến đổi khí hậu thành phố Đ2 thực hiện Công trình nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2 thì UBND tỉnh Quảng Bình là chủ đầu tư dự án, người quản lý và ch u trách nhiệm tài chính của Nhà nước để thực hiện dự án nói trên, căn cứ vào Điều 62 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà án cấp s thẩm đã xác đ nh UBND tỉnh Quảng Bình tham gia tố tụng với tư cách “B hại” là có căn cứ, đúng pháp luật. [1.3]. Về giám đ nh tư pháp: Quá trình giải quyết vụ án, C quan Điều tra Công an tỉnh Quảng Bình đã trưng cầu ông Nguyễn Phước K – Giám đ nh viên về lĩnh vực xây dựng để giám đ nh tư pháp về rà phá bom mìn, vật nổ là không phù hợp và đảm bảo khách quan bởi lẻ, ông K không có kiến thức chuyên môn về rà phá bom mìn, vật nổ, h n nữa, ông K là cán bộ công chức thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình, chấp hành theo sự quản lý phân công của UBND tỉnh Quảng Bình là b hại trong vụ án. Việc ông K tham gia tố tụng làm Giám đ nh viên trong vụ án này là chưa đúng với quy đ nh tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 2, Điều 3 Luật giám đ nh tư pháp. Mặc khác, về nội dung các Kết luận giám đ nh và giám đ nh bổ sung cũng chưa xác đ nh được cụ thể hậu quả thiệt hại, chỉ đánh giá về những sai sót trong việc thực hiện trình tự, thủ tục đối với gói thầu, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét, tham khảo khi xét xử vụ án. Xét thấy, đây là vụ án xét xử b cáo Thái Vĩnh T về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ s vụ án để kết luận hậu quả vật chất từ hành vi phạm tội của các b cáo nên không cần thiết phải trưng cầu giám đ nh lại hậu quả.
. Về hành vi phạm tội:
. Đối với b cáo Thái Vĩnh T: Do biết được thông tin về dự án công trình xây dựng nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2 và gói thầu ĐH/NT 03 về rà phá bom mìn, vật nổ b cáo Thái Vĩnh T đã liên hệ với BQLDA Môi trường và Biến đổi khí hậu thành phố Đ2 để xin thực hiện gói thầu nói trên, ngày 13/12/2017, BQLDA có công văn số 333c/CV-QLDA gửi Bộ tư lệnh quân khu 4 Bộ quốc phòng về việc chỉ đ nh các đ n v thực hiện rà phá bom mìn, vật nổ đối với dự án, ngày 13/12/2017 Bộ tư lệnh Quân khu có Quyết đ nh số 2493/QĐ-BTL về việc, tổ chức thực hiện công tác khảo sát, lập phư ng án dự toán và thi công rà phá bom mìn, vật nổ đối với gói thầu DH/NT 03, các văn bản đều do Thái Vĩnh T nhận, giao trực tiếp cho BQLDA. Nội dung Quyết đ nh trên giao cho Kho K77, Công binh – Quân khu là đ n v khảo sát, lập Phư ng án kỹ thuật thi công và dự toán, nhưng Thái Vĩnh T đã thuê người chỉnh sửa nội dung trong Quyết đ nh trên thành nội dung khác là: “Giao cho Tổng công ty xây dựng TS thực hiện..” các công việc nêu trên, đồng thời thêm nội dung “C quan chủ nghiệm Công binh – Quân khu 5 giám sát chất lượng thi công rà phá bom mìn, vật nổ”.
Do không biết được nội dung đã b thay đổi, ngày 13/12/1017 BQLDA có văn bản số 28/TTR-KHKT gửi Tổng công ty TS dự thảo Hợp đồng khảo sát, lập phư ng án, dự án rà phá bom mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03, ngày 14/12/2017 Nguyễn Văn Th bên BQLDA và Thái Vĩnh T (mạo danh Giám đốc Trung tâm rà soát bom, mìn, vật nổ thuộc Công ty xây dựng TS) ký hợp đồng đối với hạng mục khảo sát, lập phư ng án, dự toán rà phá bom, mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03 có giá tr Hợp đồng là 23.000.000 đồng. Ngày 19/12/2017 ông Nguyễn Văn Th đại diện BQLDA còn ký hợp đồng tư vấn giám sát với c quan chủ nhiệm Công binh – Quân khu 5 có giá tr hợp đồng là 7.669.000 đồng.
Toàn bộ các văn bản, hợp đồng nêu trên đều phát sinh, xuất phát từ những hành vi gian dối của b cáo Thái Vĩnh T. Trong lúc đó, căn cứ vào nội dung thật của QĐ 2439/QĐ-BTL của Bộ tư lệnh quân khu 4, kho K77, Công bình quân khu 4 cũng đã tiến hành khảo sát lập Phư ng án kỹ thuật thi công và dự toán để trình bộ tham mưu Quân khu 4 thẩm đ nh. Ngày 20/7/2017 Bộ tư lệnh Quân khu 4 có Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL về việc phê duyệt Phư ng án kỹ thuật thi công và phê duyệt dự toán gói thầu DH/NT 03 có giá tr 455.205.000 đồng, cũng do Thái Vĩnh T trực tiếp nhận Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL nói trên sau đó chuyển cho BQLDA, b cáo đã chỉnh sửa nội dung Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL, nâng giá phê duyệt dự án từ 455.205.00 đồng lên 822.962.000 đồng, rồi nộp cho BQLDA để tham gia dự thầu, kết quả tham gia, Trung tâm do tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ TS (Do Thái Vĩnh T giả mạo làm Giám đốc) trúng thầu với giá 612.522.715 đồng. Sau đó, ngày 02/02/2018, BQLDA ký Hợp đồng rà phá bom, mìn, vật nổ gói thầu DH/NT.03 với Trung tâm dò tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ giá tr hợp đồng là 612.522.715 đồng. Quá trình thự hiện Hợp đồng Thái Vĩnh T đã liên hệ với ông Phùng Mạnh L1 công tác tại Trung tâm hành động bom, mìn tỉnh Quảng Tr thi công, ông L1 đã liên hệ ông Nguyễn Ngọc M1, ông M1 đã liên hệ gọi thêm các ông Trần Công T4, Từ Công N4, Nguyễn Ngọc M1, Lê Công A1 và ông Nguyễn Văn Ng thi công rà phá bom mìn, thời gian 09 ngày vào tháng 05/2018. Sau khi thi công thì hai bên đã thanh lý Hợp đồng với số tiền 612.522.715 đồng. Xem xét về hậu quả: Xét thấy, việc thực hiện dự án Công trình xây dựng nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2 là có thật, đã được UBND tỉnh Quảng Bình có Quyết đ nh phê duyệt giao cho BQLDA môi trường và biến đổi khí hậu thành phố Đ2 thực hiện, trong đó có gói thầu DH/NT.03 về rà phá bom, mìn, vật nổ trên diện tích 6,2 ha. Do có nhu cầu thực hiện gói thầu nói trên b cáo Thái Vĩnh T đã có hành vi thuê người chỉnh lý, thay đổi nội dung văn bản của Bộ tư lệnh Quân khu 4, khắc giả con dấu của C quan Trung tâm rà phá bom mìn, vật nổ thuộc Tổng công ty xây dựng TS là đ n v kinh tế thuộc quản lý của Quân đội, các hành b nói trên của b cáo thuộc thẩm quyền xem xét của các c quan tiến hành tố tụng hình sự của Quân khu 4, đối với gói thầu DH/NT.03 b cáo Thái Vĩnh T có hành vi gian dối trong việc thay đổi Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL của Bộ tư lệnh quân khu 4, nâng giá dự toán được thẩm đ nh từ 455.205.000 đồng lên 822.962.000 đồng sau đó tham gia dự thầu, trúng thầu và ký kết hợp đồng với giá tr 612.522.715 đồng, vượt dự toán đã được thẩm đ nh và phê duyệt của c quan có thẩm quyền là 157.317.715 đồng. Tuy b cáo Thái Vĩnh T có nhiều hành vi giả mạo trong quá trình dự thầu, hợp đồng và thanh lý đối với gói thầu, nhưng thực tế b cáo đã tiến hành thuê người thi công hoàn thành gói thầu, bàn giao mặt bằng để xây dựng Công trình Nghĩa trang xã B3 hoàn thành và đảm bảo an toàn. Như vậy, số tiền Nhà nước phải chi phí cho gói thầu là 455.205.000 đồng, số tiền này đã được c quan có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy đ nh của pháp luật, quá trình thực hiện thực tế đã có hoạt động rà phá bom mìn, vật nổ, quá trình điều tra không chứng minh được chi phí thực tế, tại Kết luận giám đ nh cũng chỉ đưa ra hậu quả của vụ án trên các giả thiết (giả sử), việc Bản án s thẩm quy kết hậu thiệt hại đối với số tiền 455.205.000 đồng là chưa có c sở. Hành vi phạm tội của b cáo Thái Vĩnh T thể hiện việc gian dối là đã sửa chữa Quyết đ nh 2560/QĐ-BTL từ 455.205.000 đồng lên 822.962.000 đồng. Sau đó tham gia dự thầu với giá tr hợp đồng và được thanh toán số tiền 612.522.715 đồng, nhằm để chiếm đoạt số tiền 157.317.715 đồng. Tại Bản án s thẩm đã xác đ nh số tiền b cáo Thái Vĩnh T gây thiệt hại 604.896.579 đồng và xác đ nh đó là hậu quả của vụ án là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác đ nh b cáo Thái Vĩnh T có hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt số tiền 157.317.715 đồng của Nhà nước, với hậu quả trên, hành vi của b cáo Thái Vĩnh T đã phạm vào tình tiết tăng nặng đ nh khung hình phạt được quy đ nh tại khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự, tại Bản án s thẩm đã xét xử đúng về hành vi phạm tội, tuy nhiên chưa đúng về hậu quả. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo, sửa Bản án s thẩm, áp dụng Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự để xét xử, giảm hình phạt đối với b cáo Thái Vĩnh T.
Về quyết đ nh hình phạt đối với b cáo: Xét thấy, xem xét tính chất, hành vi phạm tội của b cáo Thái Vĩnh T Hội đồng xét xử thấy rằng, là một cựu sĩ quan, có cấp hàm Đại tá, được đào tạo, trưởng thành từ Quân đội nhân dân Việt Nam nhưng Thái Vĩnh T không giữ gìn phẩm chất cách mạng của người lính, chỉ vì động c vụ lợi cá nhân, lợi dụng mối quan hệ quen biết để giả danh, thuê người làm giả con dấu và thay đổi những nội dung văn bản của c quan, tổ chức có thẩm quyền, thể hiện sự gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt, hưởng lợi bất chính tiền ngân sách của Nhà nước, hành vi của b cáo Thái Vĩnh T là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, vì vậy, cần phải xử phạt một mức án nghiêm minh, đúng quy đ nh của pháp luật, cách ly b cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xem xét hành vi phạm tội của b cáo Nguyễn Văn Th và b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3: Xét thấy, vào thời điểm thực hiện dự án Công trình xây dựng nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2, b cáo Nguyễn Văn Th giữ chức vụ Giám đốc BQLDA Môi trường và Biến đổi khí hậu thành phố Đ2, b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 là cán bộ thuộc BQLDA là những người có trách nhiệm tổ chức, thực hiện gói thầu DH/NT.03 thuộc dự án Công trình nghĩa trang xã B3, thành phố Đ2, theo Quyết đ nh số 4522/QĐ-UBND ngày 12/12/2017 của UBND tỉnh Quảng Bình, nhưng các b cáo đã có hành vi thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ được phân công để cho b cáo Thái Vĩnh T có nhiều hành vi gian dối lừa đảo chiếm đoạt số tiền 157.317.715 đồng của Nhà nước. Xem xét bản Kết luận Giám đ nh số 02/KLGĐ-KHĐT ngày 20/02/2020 và Kết luận giám đ nh bổ sung số 100/KLGĐ-KHĐT, ngày 20/4/2020 của Giám đ nh viên tư pháp Nguyễn Phước K đã nhận xét, đánh giá về tình trạng hồ s Gói thầu DH/NT.03 là phù hợp, h n nữa, b cáo Nguyễn Văn Th, đã thiếu trách nhiệm trong việc không kiểm tra tính xác của các văn bản do b cáo Thái Vĩnh T (sỹ quan đã nghĩ hưu) trực tiếp giao, không theo đường công văn hành chính, sau khi nhận văn bản trực tiếp từ b cáo T, b cáo Thuận đã không liên hệ với c quan phát hành để phối hợp kiểm tra nội dung, yêu cầu của các văn bản, quá trình lập thủ tục, tài liệu hồ s hoạt động của gói thầu DH/NT.03, b cáo Nguyễn Văn Th đã thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra đối với các bộ phận, cán bộ thuộc quyền có liên quan trong việc tham mưu, đề xuất lựa chọn đối tượng thầu, ký kết các hợp đồng liên quan gói thầu DH/NT.03 và nghiệm thu thanh toán không đúng quy đ nh, việc Thái Vĩnh T làm giả tài liệu, con dấu, có thể b cáo Thuận không biết, nhưng do không chỉ đạo việc nghiên cứu, rà soát, đối chiếu với văn bản quy đ nh của pháp luật về rà phá bom, mìn, vật nổ, quy trình thủ tục qua từng bước, từng hoạt động giao thầu để kiểm tra tính phù hợp với quy đ nh của pháp luật, (Quyết định 96/2006TTg ngày 04/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư 146/TT-BQP ngày 11/9/2007 của Bộ quốc phòng), do không soát xét, nắm vững nên b cáo Nguyễn Văn Th và một số cán bộ cấp dưới nằm trong các bộ phận tham mưu, đề xuất, đã ký kết hợp đồng không đúng đối tượng, tình trạng hồ s , thủ tục không đầy đủ, xác đ nh khối lượng, chất lượng công việc, nghiệm thu thanh toán đều không thực hiện đúng các quy đ nh của pháp luật, để cho b cáo Thái Vĩnh T có hành vi lợi dụng, lừa đảo chiếm đoạt số tiền 157.317.715 đồng của Nhà nước. Đối với b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 cho rằng bản thân không được đào tạo, không nắm chuyên môn về lĩnh vực rà phá bom mìn, vật nổ, nhưng khi được bố trí vào “Tổ chuyên gia xét thầu” (Theo Quyết định số 137a/QĐ-QLDA của BQLDA) b cáo đã không từ chối nhận nhận nhiệm vụ mà vẫn tham gia làm thành viên trong “Tổ chuyên gia xét thầu” nêu trên, quá trình tham gia b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 đã cùng với các b cáo Nguyễn Anh T3 và Lê Văn S2 có Tờ trình đề ngh phê duyệt hồ s yêu cầu chỉ đ nh thầu, cá nhân Nguyễn Huỳnh Minh T3 có Phiếu đánh giá chấm đạt các tiêu chí và tham gia lập báo cáo trình BQLDA ký kết Hợp đồng với Trung tâm do tìm, xử lý bom, mìn, vật nổ TS, trong lúc còn thiếu rất nhiều thủ tục pháp lý theo quy đ nh của pháp luật về giao thầu, như đã phân tính lỗi chung của nhiều người trong BQLDA nêu trên, b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 đã có hành vi thiếu trách nhiệm trong việc đánh giá kết quả lựa chọn nhà thầu, góp phần dẫn đến hậu quả thiệt hại của vụ án. Tại Bản án s thẩm đã xét xử b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 về hành vi“Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” là có căn cứ pháp luật. Về hậu quả của những hành vi thiếu trách nhiệm, như đã phân tích ở phần trên, hậu quả thiệt hại từ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Thái Vĩnh T (Số tiền 157.317.715 đồng), đó cũng chính là hậu quả từ những hành vi thiếu trách nhiệm của các b cáo Nguyễn Văn Th, Trư ng Tấn L, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Huỳnh Minh T3 và Lê Văn S2. Từ những nhận đ nh nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của b cáo Nguyễn Văn Th và b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3, xem xét về hậu quả thiệt hại để sửa Bản án s thẩm, áp dụng khoản 1 điều 360 để xét xử đối với các b cáo.
Đối với các b cáo Trư ng Tấn L, Nguyễn Anh T3 và Lê Văn S2 không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, tuy nhiên, do quá trình xét xử phúc thẩm đối với vụ án có thay đổi về hậu quả thiệt hại, do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa mức hình phạt của Bản án s thẩm đối với các b cáo không có kháng cáo cho phù hợp và tư ng xứng vai trò, tính chất hành vi phạm tội của từng b cáo.
Xem xét vai trò, tính chất mức độ hành vi phạm tội để quyết đ nh về hình phạt đối với các b cáo phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, xét thấy, tại Bản án s thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các b cáo, nhận thấy, các b cáo Nguyễn Văn Th và Trư ng Tấn L, Nguyễn Anh T3, Lê Văn S2 và Nguyễn Huỳnh Minh T3 đều phạm tội do lỗi vô ý, không có đồng phạm, không có động c vụ lợi gì khi thực hiện trách nhiệm được giao, các b cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, do vậy Hội đồng xét xử chỉ cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự, tuỳ theo tính chất, mức độ phạm tội, vai trò, trách nhiệm của từng b cáo, áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các b cáo Nguyễn Văn Th và Trư ng Tấn L, Nguyễn Anh T3, Lê Văn S2 và Nguyễn Huỳnh Minh T3, cho các b cáo được cải tạo tại cộng đồng, cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung, đối với b cáo Nguyễn Văn Th là cán bộ đã nghỉ hưu, thuộc diện người cao tuổi, không có thu nhập gì ngoài tiền lư ng, do vậy miễn khấu trừ thu nhập cho các b cáo Thuận. Đối với các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm về khấu trừ thu nhập, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh , Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Do sửa bản án s thẩm, Hội đồng xét xử xem xét sửa lại phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại và án phí dân sự tại Bản án s thẩm đối với b cáo Thái Vĩnh T.
Về án phí phúc thẩm, do chấp nhận kháng cáo các b cáo Thái Vĩnh T, Nguyễn Văn Th và Nguyễn Huỳn Minh T3 không phải ch u án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các b cáo Thái Vĩnh T, Nguyễn Văn Th và Nguyễn Huỳnh Minh T3, sửa Bản án hình sự s thẩm số 26/2022 ngày 19/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình. 1. Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 174, các điểm s, v khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với b cáo Thái Vính T.
- Xử phạt b cáo Thái Vĩnh T 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2020. 2. Áp dụng điểm d khoản 1, Điều 360, các điểm i, s, khoản 1, Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Đối với tất cả các b cáo Nguyễn Văn Th, Trư ng Tấn L, Nguyễn Anh T3, Nguyễn Huỳnh Minh T3 và Lê Văn S2. Áp dụng thêm điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với b cáo Nguyễn Văn Th; áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Trư ng Tấn L; áp dụng thêm điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Anh T3; áp dụng thêm khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Huỳnh Minh T3 và Lê Văn S2.
- Xử phạt b cáo Nguyễn Văn Th 24 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tình từ ngày UBND phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và Quyết đ nh thi hành án hình sự đối với b cáo Nguyễn Văn Th.
- Xử phạt b cáo Trư ng Tấn L 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tình từ ngày UBND phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và Quyết đ nh thi hành án hình sự đối với b cáo Trư ng Tấn L.
- Xử phạt b cáo Nguyễn Anh T3 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tình từ ngày UBND phường Bắc Lý, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và Quyết đ nh thi hành án hình sự đối với b cáo Nguyễn Anh T3.
- Xử phạt b cáo Nguyễn Huỳnh Minh T3 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và quyết đ nh thi hành án.
- Xử phạt b cáo Lê Văn S2 12 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đ1, thành phố Đ2, tỉnh Quảng Bình nhận được Bản án và quyết đ nh thi hành án. Căn cứ khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự miễn khấu trừ thu nhập đối với các b cáo Nguyễn Văn Th, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo Nguyễn Văn Th.
Về bồi thường thiệt hại áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc b cáo Thái Vĩnh T trả lại 157.317.715 đồng (một trăm năm mươi bảy triệu, ba trăm mười bảy ngàn, bảy trăm mười lăm đồng) cho UBND tỉnh Quảng Bình.
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Về án phí dân sự trong vụ án hình sự: Buộc b cáo Thái Vĩnh T phải ch u 7.866.000 đồng án phí dân sự s thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các b cáo Thái Vĩnh T, Nguyễn Văn Th và Nguyễn Huỳnh Minh T3 không phải ch u.
Đối với các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm về khấu trừ thu nhập, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh , có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng ngh .
Kể từ ngày UBND tỉnh Quảng Bình có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Thái Vĩnh T không nộp tiền bồi thường, hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu thêm khoản tiền lãi suất, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự,người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án,bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Công an tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - B cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, Phòng HCTP, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương CôngThi |