- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyễn Anh T - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai (điều 174 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Anh T và Võ Nam P; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2020/HS-PT Ngày: 09-03-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm ph n - h t a phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sang;
Thẩm ph n thành viên: Ông Bùi Ngọc Thạch;
Ông Lê Quân Vương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương t ử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 13/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Trần Nguyễn Anh T và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Trần Nguyễn Anh T và bị cáo Võ Nam P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.
- Bị c o có kh ng c o:
1.Trần Nguyễn Anh T, sinh năm 1991, tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: Số 91/21B khu phố 1 phường L Quận 9 Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Anh T và Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ con; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến ngày 20/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Nam P, sinh năm 1998, tại tỉnh Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Số 21 khu phố 5 thị trấn V huyện G tỉnh Tiền Giang; tạm trú: Số 524/3/2 đường Lê Văn L, tổ 5 ấp 3 ã Phước Kiển huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Nam P và bà Lâm Ngọc T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến ngày 20/4/2019 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong v án còn có 01 bị cáo khác bị hại người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án nhưng không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Trần Nguyễn Anh T là nhân viên quản lý nhập hàng tại kho siêu thị BigC D của Công ty TNHH EB Bình Dương (gọi tắt BigC D) địa chỉ số: Số TM8, đường GS01 khu phố Tây A phường H thị ã (nay là thành phố) D tỉnh Bình Dương. Bị cáo Võ Nam P là nhân viên giao hàng, bị cáo Nguyễn Quang S là lái e ch hàng cho Công ty cổ phần Việt Nam Kỹ nghệ SS(gọi tắt Công ty SS) địa chỉ: Số 420 đường L, Phường 13 quận B Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty SS ký bán hàng xúc xích cho BigC D với cách thức giao hàng và nhận hàng: Khi nhận đơn hàng từ BigC D, Công ty SS lên hóa đơn bán hàng (hóa đơn giá trị gia tăng) chuẩn bị hàng e vận chuyển và giao nhân viên đi giao hàng. Khi ch hàng đến BigC D nhân viên giao hàng đăng ký giao hàng tại phòng bảo vệ bằng cách đưa hóa đơn bán hàng giá trị gia tăng tại phòng bảo vệ, phòng bảo vệ mang hóa đơn lên phòng quản lý phòng quản lý in hóa đơn PURCHASE NOTE (phiếu mua hàng) sau đó chuyển hóa đơn này cho bị cáo Thi là người tiếp nhận hàng. Nhân viên giao hàng sẽ chuyển hàng từ trên ôtô uống cho Thi nhận hàng kiểm đếm hàng đánh dấu số lượng hàng nhận trên phiếu mua hàng sau đó mang phiếu mua hàng cho phòng quản lý phòng quản lý đóng dấu ác nhận và chuyển lại cho phòng bảo vệ để giao lại cho bên giao hàng.
Trong quá trình giao nhận hàng cho siêu thị BigC D bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P và Nguyễn Quang S đã bàn bạc chiếm đoạt tài sản 04 lần c thể:
Lần 1: Vào giữa tháng 3 năm 2019 Võ Nam P đi giao hàng úc ích trước khi đi Phát điện thoại cho Trần Nguyễn Anh T biết số lượng hàng giao. Trần Nguyễn Anh T nói Võ Nam P “lấy 30 gói xúc xích Vissan Happy 500 gram và 30 gói úc ích Vissan Funny 500 gram”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Nguyễn Thành C lái xe ôtô tải biển số 51D-038.23 ch Võ Nam P cùng hàng úc ích đến giao. Khi tiếp nhận hàng Trần Nguyễn Anh T kiểm đếm đánh dấu nhận đủ số lượng hàng trên phiếu mua hàng nhưng thực tế để lại 02 thùng hàng bên trong có 30 gói xúc xích Vissan Happy 500 gram và 30 gói xúc xích Vissan Funny 500 gram trên thùng e ô tô tải như đã bàn bạc với Võ Nam P. Sau đó Võ Nam P mang số hàng trên bán cho người tên C1 (không rõ nhân thân) được 1.140.000 đồng Võ Nam P giữ 540.000 đồng và cho Trần Nguyễn Anh T 600.000 đồng.
Lần 2: Vào cuối tháng 3 năm 2019 Võ Nam P đi giao hàng úc ích trước khi đi Võ Nam P điện thoại cho Trần Nguyễn Anh T biết số lượng hàng giao. Trần Nguyễn Anh T nói Võ Nam P “lấy 30 gói úc ích Vissan Funny 500 gram”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Nguyễn Thành C điều khiển e ôtô tải biển số 51D-038.23 ch Võ Nam P cùng hàng úc ích đến giao. Trần Nguyễn Anh T tiếp nhận hàng kiểm đếm đánh dấu nhận đủ hàng trên phiếu mua hàng nhưng thực tế để lại 01 thùng hàng bên trong có 30 gói xúc xích Vissan Funny 500 gram trên thùng xe ôtô tải. Sau đó Võ Nam P mang số úc ích bán cho người ph nữ không rõ nhân thân tại địa bàn quận V Thành phố Hồ Chí Minh được 540.000 đồng Võ Nam P giữ 240.000 đồng và chia cho Trần Nguyễn Anh Thi 300.000 đồng.
Lần 3: Khoảng 08 giờ ngày 09 tháng 4 năm 2019 Võ Nam P đi giao hàng xúc xích, trước khi đi Võ Nam P điện thoại cho Trần Nguyễn Anh T biết số lượng hàng giao. Trần Nguyễn Anh T nói Võ Nam P “lấy 30 gói úc ích Vissan Funny 500 gram”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Vũ Quốc P lái e điều khiển e ôtô tải biển số 51D-038.23 ch Võ Nam P cùng hàng úc ích đến giao, Trần Nguyễn Anh T kiểm đếm đánh dấu nhận đủ hàng trên phiếu mua hàng nhưng thực tế để lại 01 thùng hàng bên trong có 30 gói úc ích Vissan Funny 500 gram trên thùng e ô tô tải. Sau đó Võ Nam P mang số úc ích trên bán cho người ph nữ không rõ nhân thân tại địa bàn quận V được 540.000 đồng Võ Nam P giữ 240.000 đồng đưa Trần Nguyễn Anh T 300.000 đồng.
Lần 4: Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 11 tháng 4 năm 2019 Nguyễn Quang S điều khiển e ô tô tải biển số 51D-038.23 ch Võ Nam P đi giao hàng gồm 400 gói úc ích Happy 500 gram và 180 gói úc ích Funny 500 gram tại siêu thị BigC D. Trước khi đi Võ Nam P điện thoại cho Trần Nguyễn Anh T biết số lượng hàng giao, Trần Nguyễn Anh T nói Võ Nam P “lấy 70 gói úc ích Happy 500 gram và 30 gói úc ích Funny 500 gram” đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Quang S điều khiển e ô tô tải biển số 51D - 038.23 ch Võ Nam P đi giao trên đường đi Võ Nam P nói Nguyễn Quang S “khi bốc hàng uống để lại 04 thùng hàng bên trong có 70 gói xúc xích Happy 500 gram và 30 gói úc ích Funny 500 gram để bán lấy tiền”. Đến 12 giờ 30 phút cùng ngày Nguyễn Quang S, Võ Nam P đến giao hàng Võ Nam P, Nguyễn Quang S uống hàng để cho Trần Nguyễn Anh T kiểm đếm đánh dấu nhận đủ hàng trên phiếu mua hàng nhưng thực tế để lại 04 thùng hàng như thỏa thuận với Võ Nam P trên e ô tô. Sau đó Nguyễn Quang S điều khiển e ô tô ra bên ngoài chờ Võ Nam P mang đi bán. Thời điểm này ông Trát Thanh T(Tổ trư ng an ninh) quan sát camera an ninh siêu thị BigC D nghi vấn Trần Nguyễn Anh T chỉ đánh dấu trên phiếu mua hàng không kiểm đếm hàng. Ông Trát Thanh T nói bà Lê Thị Thanh T (nhân viên an ninh) “ uống kho hàng dừng số hàng này lại không cho mang lên khu vực quầy hàng để trưng bày” khi bà Trát Thanh T kiểm tra hàng ác định hàng giao thiếu nên báo Công an phường H đến làm việc sau đó Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P, Nguyễn Quang S khai nhận việc chiếm đoạt mặt hàng xúc xích.
Kết luận định giá tài sản số 172/BB.ĐG ngày 06 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng định giá thị ã D kết luận 30 gói úc ích hiệu Vissan Happy loại 500g/gói trị giá 1.125.000 đồng (đơn giá 37.500 đồng/gói); 90 gói úc ích hiệu Vissan Funny loại 500g/gói (đơn giá 31.000 đồng/gói) trị giá 2.790.000 đồng tổng giá trị tài sản 3.915.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 117/BB.ĐG ngày 06/5/2019 của Hội đồng định giá thị ã D kết luận 70 gói úc ích hiệu Vissan Happy loại 500g/gói (đơn giá 37.500 đồng/gói); trị giá 2.625.000 đồng; 30 gói úc ích hiệu Vissan Funny loại 500g/gói (đơn giá 31.000 đồng/gói) trị giá 930.000 đồng tổng giá trị tài sản 3.555.000 đồng.
Bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P chiếm đoạt tài sản có trị giá 7.470.000 đồng bị cáo Nguyễn Quang S chiếm đoạt tài sản trị giá 3.555.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 299/CT-VKS ngày 19 tháng 8 tháng 2019 Viện kiểm sát nhân dân thị ã D tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P, Nguyễn Quang S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã (nay là thành phố) D tuyên ử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P, Nguyễn Quang S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174 điểm b h r s khoản 1 2 Điều 51 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Anh T 08 (tám) tháng tù. Xử phạt bị cáo Võ Nam P 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù đối với các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P được tính từ ngày bắt thi hành án các bị cáo được tính trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến ngày 20/4/2019.
Ngoài ra bản án còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Quang S hình phạt 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tuyên về ử lý vật chứng án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi t ử sơ thẩm ngày 20 tháng 11 năm 2019 các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hư ng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện Kiểm s t nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ n: Về thời hạn kháng cáo đơn kháng cáo của của các bị cáo đúng theo thời hạn luật định nên Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra em t theo thủ t c phúc thẩm là đúng theo thẩm quyền và quy định tại Điều 332 Điều 333 của Bộ luật Tố t ng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm. Các bị cáo kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt nhưng các bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) và cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Tòa án cấp sơ thẩm ử phạt bị cáo Trần Nguyễn Anh T 08 (tám) tháng tù ử phạt bị cáo Võ Nam P 08 (tám) tháng tù là tương ứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, đề nghị Hội đồng t ử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phần tranh luận và trong lời nói sau cùng, các bị cáo mong Hội đồng t ử em t giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng t ử nhận định như sau:
Bị cáo Trần Nguyễn Anh T là nhân viên quản lý nhập hàng tại kho siêu thị BigC D bị cáo Võ Nam P là nhân viên giao hàng của Công ty SS để có tiền tiêu ài các bị cáo bàn bạc trước sẽ chiếm đoạt tài sản là mặt hàng úc ích khi Công ty SS giao hàng cho BigC D để bán lấy tiền chia nhau. Từ thời gian giữa tháng 3 tháng 2019 đến ngày 11 tháng 04 năm 2019 các bị cáo Võ Nam P, Trần Nguyễn Anh T đã có hành vi gian dối (không giao đủ hàng nhưng đánh dấu nhận đủ hàng vào phiếu mua hàng) để chiếm đoạt các loại úc ích của BigC D tổng giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 7.470.000 đồng. Do đó, Tòa cấp sơ thẩm t ử các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng quy định pháp luật.
Xét kh ng c a bị c o về việc xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ, Hội đồng xét xử xét thấy:
Từ thời gian giữa tháng 3 tháng 2019 đến ngày 11 tháng 04 năm 2019 các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P nhiều lần thực hiện việc chiếm đoạt úc xích của BigC D, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhiều lần bất chấp hậu quả. Vì vậy cần ử phạt các bị cáo với mức án tương ứng với vai trò mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm có tác d ng giáo d c trừng trị đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho ã hội. Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã em t áp d ng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P theo quy định tại các điểm b, h, r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017). Tuy nhiên về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các bị cáo Trần Nguyễn Anh T, Võ Nam P phạm tội hai lần tr lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nhưng tại phần Quyết định của Bản án lại không áp d ng là có thiếu sót, cần bổ sung áp d ng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự cho phù hợp.
Tòa án cấp sơ thẩm đã em t đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo để ử phạt bị cáo Trần Nguyễn Anh T và Võ Nam P mỗi bị cáo 08 (tám) tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo cũng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng t ử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm là phù hợp nên Hội đồng t ử chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trần Nguyễn Anh T và Võ Nam P phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì c c lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Nguyễn Anh T và Võ Nam P; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2019/HS-ST ngày 11 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị ã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.
Áp d ng khoản 1 Điều 174; các điểm b s, r, h khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt Bị cáo Trần Nguyễn Anh T 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến ngày 20/4/2019.
Xử phạt Bị cáo Võ Nam P 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến ngày 20/4/2019.
2. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Trần Nguyễn Anh T và Võ Nam P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thành phố D; - VKSND thành phố D ; - Chi c c THADS thành phố D ; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thành phố D ; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo; 1 - Lưu: Tổ HCTP HSVA Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Sang |