- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án 41 - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? QUYẾT ĐỊNH Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T. Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Xuân C. Căn cứ Điều 47 Bộ luật H…
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| KHU VỰC 3- NINH BÌNH Bản án số: 41/2026/HS-ST Ngày: 16-4-2026 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phiếu, bà Nguyễn Thị Phương Thiệu.
- Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3-Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên. Ngày 16 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2026/TLST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2026, đối với các bị cáo: 1. Nguyễn Văn N sinh năm 1993 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037093002838; Nơi cư trú: Thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo thiên chúa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị P; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2025, đến ngày 09/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N.(có mặt) 2. Trần Anh T, sinh năm 1994 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037094002827; Nơi cư trú: Thôn T, xã G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn S và bà Quách Thị M; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2025, đến ngày 09/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an tỉnh N.(có mặt). 3. Bùi Xuân C sinh năm 1993 tại tỉnh Ninh Bình; số CCCD: 037093012814; Nơi cư trú: Thôn P, xã G, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Bùi Văn S1 và bà Trần Thị C1; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 23/11/2015 bị Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình phạt tiền 500.000 đồng, về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý”. Chưa chấp hành. Về nhân thân: Ngày 06/6/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong 09/6/2018. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/7/2025, đến ngày 09/8/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1
- Công an tỉnh N.(có mặt) 4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Vũ Văn C2, sinh năm 1998; nơi cư trú: thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
+ Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; nơi cư trú: thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
+ Anh Hồ Viết Tuấn A, sinh năm 2005; nơi cư trú: thôn E, xã H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt) 5. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Q và chị Trần Thị T2. (vắng mặt). NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn N, Bùi Xuân C, Trần Anh T và Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình đều là người sử dụng trái phép chất ma tuý đá và quen biết nhau từ trước. Trưa ngày 30/7/2025 C đến nhà N chơi và ăn cơm uống bia tại nhà N. Khoảng 20 giờ cùng ngày, N rủ C sử dụng ma tuý đá, C đồng ý. Sau đó, N sử dụng số điện thoại 0969.243.638 của N gọi đến số điện thoại 0326.471.489 của Vũ Văn C2, sinh năm 1998, trú tại thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá và xin thêm một ít ma tuý hồng phiến, N nhờ C2 mang ma tuý đá đến nhà N và trả thêm tiền công là 50.000 đồng, C2 đồng ý bán ma tuý cho N nhưng do trời sắp mưa nên C2 chỉ đồng ý mang ma tuý đến để ở chân cột điện gần cổng trường mầm non Đ1 để N ra lấy, N đồng ý. Sau đó, N sử dụng số tài khoản 3868363893 ngân hàng T3 của N chuyển đến số tài khoản 0326471489 ngân hàng MB của C2 số tiền 550.000 đồng. Sau khi nhận tiền của N chuyển, C2 cho 01 túi ma tuý đá trộn một ít ma tuý hồng phiến quấn giấy vệ sinh cho vào trong một vỏ chai Number one màu vàng mang đến để ở chân cột điện gần Cổng trường mầm non Đ1 rồi đi về. Do N không có xe nên khi thấy T đi qua nhà N thì N đã gọi T vào nhờ T ra chỗ C2 để ma tuý lấy mang về cho N để cùng sử dụng. T đồng ý và đi đến nơi N chỉ, khoảng 22 giờ cùng ngày sau khi lấy được vỏ chai nước Number one đựng ma tuý, T mang về phòng ngủ nhà N. T mở nắp chai, đổ gói quấn giấy vệ sinh ra, mở gói giấy vệ sinh bên trong có một túi nilon màu trắng viền màu xanh bên trong túi nilon chứa ma tuý đá trộn với một ít ma tuý hồng phiến, T để túi ma tuý trên xuống dưới nền phòng ngủ. Lúc này, N mang bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma tuý đá của N có sẵn từ trước ra, N lấy một chiếc dao lam cắt vát ống nhựa làm vật xúc ma tuý vào cóong, tiếp đó N lấy một mẩu giấy bạc cuốn lại gắn vào ống dẫn gas của bật lửa để đốt ma tuý trong cóong. Sau đó, N tự cầm ống hút sử dụng ma tuý đá đầu tiền, tiếp đó N đốt ma tuý đá cho C và T cầm ống hút mỗi người hút một khói. Sau đó T đi về, N và C hút mỗi người 2-3 khói nữa là hết ma tuý trong coóng. Nhật xúc hết số ma tuý còn lại trong túi nilon đổ vào coóng rồi dùng bật lửa đốt cháy túi nilon rồi N và C tự sử dụng hết số ma tuý còn lại rồi nằm xem điện thoại. Nhật tháo bộ coóng ra cất đi. Khoảng 06 giờ sáng ngày 31/7/2025, do có nhu cầu sử dụng ma tuý Nhật nhắn tin rủ T sang ăn sáng và nhờ T kiếm ma tuý đá về để tiếp tục sử dụng. T nhắn tin bảo N chuyển cho T 500.000 đồng để đi mua ma tuý đá nhưng N không chuyển cho T luôn mà gọi cho Vũ Văn C2 để hỏi mua, nếu không mua được của C2 mới nhờ T. Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, N gọi cho Nguyễn Văn T1 rủ sang nhà N để sử dụng ma tuý, tiếp đó N gọi cho C2 nhưng không liên lạc được nên N lại nhắn tin nhờ T kiếm ma tuý đá. Khoảng 12 giờ 20 phút cùng ngày, N sử dụng số tài khoản 3868363893 ngân hàng T3 của N chuyển đến số tài khoản 0440124041994 ngân hàng MB của T số tiền 500.000 đồng để T đi mua ma tuý đá về sử dụng. Sau đó, T đi đến khu vực cổng trường Đ1, gặp và hỏi mua 500.000 đồng ma túy của một người đàn ông tên K, bố tên Chuyện nhà ở thôn C xã G, người nay đồng ý bán ma túy cho T và dẫn T vào khu vực núi N, xã G để bán ma túy, T đưa cho người đàn ông tên K 400.000 đồng và nói xin 100.000 đồng để đổ xăng, người này đồng ý và nhặt dưới đất lên 01 gói ma túy gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng đưa cho T. T mang gói giấy bạc màu vàng đựng chất ma tuý đá về nhà N đặt xuống nền phòng ngủ cạnh đệm. Nhật mang bộ dụng cụ sử dụng ma tuý hôm trước ra và nói: “Thằng nào rảnh thì nấu đi” (nghĩa là ai rảnh thì chế biến ma tuý đi). Nghe thấy N nói vậy thì C cầm gói giấy bạc màu vàng mở ra thấy bên trong là ma tuý đá và một mẩu ma tuý hồng phiến. C lấy ống nhựa màu tím xúc hết ma tuý đá và ma tuý hồng phiến vào cóong rồichâm lửa đốt ma tuý đá và ma tuý hồng phiến trong cóong, lúc này Nguyễn Văn T1 đến. Chính đốt ma tuý đá cho N cầm ống hút sử dụng, tiếp đó C đốt ma tuý đá cho T cầm ống hút sử dụng, tiếp đến C đốt ma tuý cho T1 cầm ống hút sử dụng, cuối cùng là C tự sử dụng, mỗi người hút được một khói. Tiếp đó, T tự đốt ma tuý hút thêm một khói rồi T đốt ma tuý cho N cầm ống hút thêm một khói nữa. Sau đó, một mình N tự sử dụng ma tuý trong coóng. Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 31/7/2025, khi các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phối hợp với Công an xã G phát hiện bắt quả tang. Tại chỗ, tổ công tác đã thu giữ:
- 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu vàng, trên nắp chai đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm một cóong thuỷ một đầu hình phễu được uốn cong, trong phễu có bám dính chất màu xám, 01 lỗ cắm ống hút nhựa màu cam dài 25cm được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS1 23010199.
- 01 bật lửa gas màu đỏ có gắn ống tự chế được cuộn bằng giấy bạc được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu QT1.
- 01 mảnh giấy bạc một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Trên mặt màu trắng có bám dính chất dịch màu đỏ được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT2.
- 01 đoạn ống nhựa màu tím dài 0,5cm một đầu được cắt vát; 01 dao lam được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT3.
- 01 điện thoại di động Realme 6, số IMEI 1: 862486044133237, số IMEI 2: 862486044133229, không lắp sim; 01 điện thoại di động OPPO A58, số IMEI 1: 864818063126577, số IMEI 2: 864818063126569, lắp sim số 0969.243.638 (điện thoại đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn N được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT4.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T, số IMEI 1: 860169052645282, số IMEI 2: 860169052645290, lắp sim 0966.628.647 (điện thoại đã qua sử dụng) của Bùi Xuân C được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT5.
- 01 điện thoại di động VIVO Y28, số IMEI 1: 862991073006931, số IMEI 2: 862991073006923, lắp sim số 0985.497.559 (điện thoại đã qua sử dụng) của Nguyễn Văn T1 được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT6.
- 01 điện thoại OPPO A12, số IMEI 1: 865194056060697, số IMEI 2: 865194056060689, lắp sim 0867.921.135 (điện thoại đã qua sử dụng) của Trần Anh T được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT7.
Ngoài ra, qua kiểm tra tại nhà N tổ công tác còn thu giữ 01 vỏ chai nước ngọt Number one bằng nhựa, dán nhãn màu vàng, có nắp màu vàng; 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng bị ướt hiện đã khô. Thu của Trần Anh T 01 xe mô tô Honda wave màu đen, số khung: RLHJA3931RY635257, số máy: JA70E – 0377747, không có biển kiểm soát.
Ngày 04/8/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N tiến hành trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N giám định đối với các mẫu trong túi niêm phong ký hiệu PS1 23010199 và các mẫu trong phong bì niêm phong ký hiệu QT2. Tại Bản kết luận giám định số: 310/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu QT2 và chất màu xám bám dính trong coóng thuỷ tinh đều là ma tuý, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng. Cơ quan điều tra tiến hành thu 100ml mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Nhật ký hiệu T4, thu 100ml mẫu nước tiểu của Bùi Xuân C ký hiệu T2, thu 100ml mẫu nước tiểu của Trần Anh T ký hiệu T3, thu 100ml mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn T1 ký hiệu T4. Sau khi thu giữ các mẫu T1, T2, T3, T4 được niêm phong theo quy định vào trong túi niêm phong mã số NS1A 075453. Ngày 04/8/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N giám định đối với các mẫu nước tiểu ký hiệu T1, T2, T3, T4. Tại Bản kết luận giám định số: 311/KL-KTHS, ngày 08/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: Tìm thấy Methamphetamine trong các mẫu nước tiểu ký hiệu T1, T2, T3, T4 gửi giám định. Methamphetamine là chất ma tuý có số thứ tự 247, thuộc bảng danh mục IIC; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N, Bùi Xuân C và Trần Anh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình cùng đồng phạm. Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKSKV3 ngày 16 tháng 3 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Khu vực 3-Ninh Bình để xét xử Nguyễn Văn N và Trần Anh T, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a, b khoản 2, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Xuân C, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị: * Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T, Bùi Xuân C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” * Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N và Trần Anh T. Áp dụng Đ b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Xuân C. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T, mỗi bị cáo từ 09 năm 06 tháng tù đến 10 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. Xử phạt bị cáo Bùi Xuân C từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Realme 6, không lắp sim; 01 điện thoại di động OPPO A58; 01 điện thoại di động VIVO Y28, 01 điện thoại OPPO A12, lắp sim 0867.921.135; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T. + Tịch thu tiêu hủy đối với: Các sim số 0969.243.638, 0985.497.559, 0966.628.647; 01 bật lửa gas màu đỏ có gắn ống tự chế được cuộn bằng giấy bạc được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu QT1; 01 đoạn ống nhựa màu tím dài 0,5cm một đầu được cắt vát; 01 dao lam được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT3; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi Công an tỉnh N, Phòng K1 số: 310/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/7/2025 xã G, tỉnh Ninh Bình (Mẫu vật hoàn trả gồm 01 mảnh giấy bạc màu vàng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 túi niêm phong theo quy định của pháp luật mã số PS2 23010185, có ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định, giám định ma tuý theo quyết định trưng cầu giám định số 3313/QĐ-CSMT ngày 04/8/2025 của PC04, số 310/KL-KTHS (Mẫu vật hoàn trả gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu cam; 01 coóng thuỷ tinh; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 vỏ chai nước ngọt Number one bằng nhựa, dán nhãn màu vàng, có nắp màu vàng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng bị ướt hiện đã khô. * Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình. Lời nói sau cùng của các bị cáo biết lỗi về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi mà mình đã thực hiện, đúng như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo, cụ thể như sau: Trong các ngày 30/7/2025 và 31/7/2025, tại nhà Nguyễn Văn N, địa chỉ thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình, Nguyễn Văn N, Bùi Xuân C, Trần Anh T và Nguyễn Văn T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể:
- Lần thứ nhất: khoảng 22 giờ ngày 30/7/2025, Nguyễn Văn N khởi xướng mua ma túy, cung cấp tiền mua ma túy, rủ Bùi Xuân C và Trần Anh T sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bỏ ma túy vào cóong dùng bật lửa ga đốt nóng “nấu” ma túy và cùng Bùi Xuân C, Trần Anh T sử dụng ma túy. Trần Anh T là người trực tiếp đi lấy ma túy về sử dụng cùng Nguyễn Văn N và Bùi Xuân C.
- Lần thứ hai: khoảng 12 giờ ngày 31/7/2025, Nguyễn Văn N khởi xướng mua ma túy, cung cấp tiền mua ma túy, rủ Bùi Xuân C, Trần Anh T và Nguyễn Văn T1 sử dụng trái phép chất ma tuý, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Trần Anh T là người trực tiếp đi mua ma túy về sử dụng, dùng bật lửa ga đốt nóng “nấu” ma túy cho Nguyễn Văn N sử dụng. Bùi Xuân C bỏ ma túy vào cóong dùng bật lửa ga đốt nóng “nấu” ma túy đá cho bản thân cùng với Nguyễn Văn N, Trần Anh T và Nguyễn Văn T1 sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; Kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu có liên quan khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Ninh Bình đã truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật cần chấp nhận. [3]. Về vai trò, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết, bàn bạc tuy nhiên cũng cần căn cứ vào hành vi, mức độ tham gia của từng bị cáo để có sự phân hóa vai trò cho từng bị cáo: Đối với bị cáo Nguyễn Văn N, là người khởi xướng, cung cấp tiền để mua ma túy, cung cấp công cụ để cả nhóm sử dụng ma túy và tham gia tích cực sử dụng ma túy trong cả hai lần, vì vậy bị cáo N phải chịu trách nhiệm với vai trò thứ nhất. Bị cáo Trần Anh T là người đi mua ma túy hai lần, hai lần sử dụng ma túy cùng N và C, bị cáo Trần Anh T giữ vai trò thứ hai, bị cáo C giữ vai trò thứ ba. Từ hành vi như trên bị cáo Nguyễn Văn N và Trần Anh T phải chịu trách nhiệm hình sự định khung tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, bị cáo Bùi Xuân C chịu trách nhiệm hình sự định khung tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự . Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về nhân thân: Bị cáo Bùi Xuân C hiện đang có 01 tiền sự về hành vi “sử dụng trái phép chất ma tuý” bị cáo chưa chấp hành, ngoài ra bị cáo từng bị đưa đi cai nghiện bắt buộc bằng quyết định của Tòa án, vì vậy bị cáo C bị coi là có nhân thân rất xấu. Bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T chưa từng bị kết án hoặc xử phạt hành chính vì vậy được coi là có nhân thân tốt. [4] Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cần phải xử phạt nghiêm minh, buộc các bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo các bị cáo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định, không có động cơ vụ lợi trong thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. [5]. Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Văn T1, ngày 31/7/2025 T1 được N rủ sang nhà để sử dụng trái phép chất ma tuý, T1 chỉ sử dụng (thụ hưởng) mà không có hành vi giúp sức nào khác cho các đối tượng sử dụng ma túy, do đó hành vi của T1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Tại bản Kết luận giám định số 311/KL-KTHS ngày 08/8/2025 của phòng K1 Công an tỉnh N, kết luận: tìm thấy Methampetamine trong mẫu nước tiểu thu của T1; Kết quả xác minh T1 không trong diện quản lý người đang cai nghiện ma tuý và quản lý sau cai nên hành vi trên của T1 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử phạt hành chính, phạt tiền 1.200.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” đối với Nguyễn Văn T1. Đối với Vũ Văn C2, sinh năm 1998, trú tại thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình, ngày 30/7/2025 đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã khởi tố điều tra đối với Vũ Văn C2 trong một vụ án khác. Đối với số ma tuý đá các đối tượng sử dụng vào ngày 31/7/2025, quá trình điều tra Trần Anh T khai mua của một người giới thiệu tên là K, bố tên là C3, khoảng 50 tuổi nhà ở thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera tại khu vực đường từ cổng trường Đ1 đến khu vực chân Núi Nội nhưng không có camera nào. Tiến hành xác minh tại thôn C, xã G, tỉnh Ninh Bình có một người là Đặng Văn K, sinh năm 1974, có bố tên là C3, cơ quan điều tra đã triệu tập ghi lời khai của anh K, anh K khẳng định ngày 31/7/2025 anh K ở nhà trông cháu, không quen, không gặp và không bán ma tuý cho T. Rút list điện thoại của T ngày 31/7/2025 không có lịch sử liên lạc với số điện thoại của anh K. Qua đối chất T khai anh K không phải người bán ma tuý cho T. Do đó, không có căn cứ để xác định ai là người bán ma tuý cho T ngày 31/7/2025 để xác minh, xử lý. [6]. Về xử lý vật chứng: + Đối với xe mô tô Honda wave màu đen, biển số: 38AS – 042.26, số khung: RLHJA3931RY635257, số máy: JA70E – 0377747 thu giữ của Trần Anh T. Quá trình điều tra xác định xe là tài sản hợp pháp của anh Hồ Viết Tuấn A, sinh năm 2005, trú tại Thôn E, xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 29/7/2025 Hồ Viết Tuấn A (là bạn xã hội với Trần Anh T) ra Ninh Bình du lịch và về nhà Trần Anh T chơi, ăn cơm uống rượu. Do đã uống rượu, anh Hồ Viết Tuấn A không đi xe về quê ở Hà Tĩnh được nên đã gửi chiếc xe này ở lại nhà Trần Anh T để hôm sau ra lấy. Ngày 30 và 31/7/2025 Trần Anh T đã tự ý lấy xe máy của anh Hồ Viết Tuấn A để đi mua và đi lấy ma tuý mang đến nhà của N để sử dụng, anh Hồ Viết Tuấn A không biết, khi lấy xe của anh Hồ Viết Tuấn A để đi thì Trần Anh T làm rơi mất biển số xe và không biết rơi ở đâu. Do đó, không có căn cứ để tịch thu xe mô tô nêu trên. Ngày 23/2/2026 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã trả lại chiếc xe trên cho anh Hồ Viết Tuấn A. + Đối với 01 điện thoại di động Realme 6, không lắp sim; 01 điện thoại di động OPPO A58; 01 điện thoại di động VIVO Y28; 01 điện thoại OPPO A12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T. Quá trình điều tra xác định các điện thoại trên là tài sản hợp pháp của N, T1, C và T, sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, cần tịch thu xung quỹ Nhà nước. + Đối với các sim số 0969.243.638, 0985.497.559, 0966.628.64701; 01 bật lửa gas màu đỏ có gắn ống tự chế được cuộn bằng giấy bạc được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu QT1; 01 đoạn ống nhựa màu tím dài 0,5cm một đầu được cắt vát; 01 dao lam được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT3; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi Công an tỉnh N, Phòng K1 số: 310/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/7/2025 xã G, tỉnh Ninh Bình (Mẫu vật hoàn trả gồm 01 mảnh giấy bạc màu vàng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 túi niêm phong theo quy định của pháp luật mã số PS2 23010185, có ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định, giám định ma tuý theo quyết định trưng cầu giám định số 3313/QĐ-CSMT ngày 04/8/2025 của PC04, số 310/KL-KTHS (Mẫu vật hoàn trả gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu cam; 01 coóng thuỷ tinh; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 vỏ chai nước ngọt Number one bằng nhựa, dán nhãn màu vàng, có nắp màu vàng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng bị ướt hiện đã khô. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu tiêu hủy. [7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo bị tuyên có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Vì các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T. Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Xuân C. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T, Bùi Xuân C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
1. Về hình phạt: 2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. 2.2. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. 2.3.Xử phạt bị cáo Bùi Xuân C 09 (chín) năm tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 31/7/2025. 3. Về xử lý vật chứng: + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động Realme 6, không lắp sim; 01 điện thoại di động OPPO A58; 01 điện thoại di động VIVO Y28; 01 điện thoại OPPO A12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9T. + Tịch thu tiêu hủy đối với: các sim số 0969.243.638, 0985.497.559, 0966.628.64701; 01 bật lửa gas màu đỏ có gắn ống tự chế được cuộn bằng giấy bạc được niêm phong vào trong phong bì ký hiệu QT1; 01 đoạn ống nhựa màu tím dài 0,5cm một đầu được cắt vát; 01 dao lam được niêm phong vào phong bì ký hiệu QT3; 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, bên ngoài ghi Công an tỉnh N, Phòng K1 số: 310/KL-KTHS, mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra ngày 31/7/2025 xã G, tỉnh Ninh Bình (Mẫu vật hoàn trả gồm 01 mảnh giấy bạc màu vàng; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 túi niêm phong theo quy định của pháp luật mã số PS2 23010185, có ghi Mẫu vật hoàn trả sau giám định, giám định ma tuý theo quyết định trưng cầu giám định số 3313/QĐ-CSMT ngày 04/8/2025 của PC04, số 310/KL-KTHS (Mẫu vật hoàn trả gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu vàng có đục 02 lỗ; 01 ống hút nhựa màu cam; 01 coóng thuỷ tinh; toàn bộ vỏ bao gói niêm phong); 01 vỏ chai nước ngọt Number one bằng nhựa, dán nhãn màu vàng, có nắp màu vàng và 01 mảnh giấy vệ sinh màu trắng bị ướt hiện đã khô. 4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Anh T, Bùi Xuân C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng). 5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 3- Ninh Bình; - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Ninh Bình; - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Ninh Bình; - Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình - Bị cáo; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hương Quỳnh |