vanban.org

Bản án 41/2026/HNGĐ-ST — Tranh chấp về cấp dưỡng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị M. Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021, mức cấp dưỡng 2.

Về án phí: Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Lương Thị M -Hoàng Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị M. Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021, mức cấp dưỡng 2.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 –CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2026/HNGĐ-ST
Ngày 16 tháng 6 năm 2026.
"Về việc: Yêu cầu cấp dưỡng
nuôi con sau ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CAO BẰNG

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân gồm: Ông Nông Văn Bình và ông Bế Văn Hạnh

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nông Phương Thảo - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thắm - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 2 - Cao Bằng xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 41/2026/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2026 về việc “ Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lương Thị M - Sinh năm 1993;

Nơi thường trú: Xóm P, xã P, tỉnh Cao Bằng.

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 18/4/2021; Nơi cấp: Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2;

Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Hoàng Minh T - Sinh năm 1998;

Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx; cấp ngày 07/5/2022; Nơi cấp: Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2.

Địa chỉ: Xóm Đ, xã Q, tỉnh Cao Bằng.

Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 11/4/2026, nguyên đơn Lương Thị M trình bày:

Tôi và anh Hoàng Minh T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 75/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Sau khi ly hôn, tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021. Nay tôi yêu cầu anh Hoàng Minh T phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000đồng/tháng. Lý do tôi yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con tăng lên.

* Quá trình giải quyết vụ án ý kiến của anh Hoàng Minh T như sau:

Tôi và chị Lương Thị M đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 75/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng. Theo Quyết định, tôi và Lương Thị M cùng thỏa thuận chị Lương Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Minh C sinh, ngày 21/10/2021 đến tuổi trưởng thành. Chị M tự nguyện không yêu cầu tôi cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật; tuy nhiên sau khi ly hôn thỉnh thoảng tôi vẫn gửi tiền (chuyển khoản) cho chị M tháng thì 1.000.000 đồng (một triệu đồng), tháng thì 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Nay chị Lương Thị Mến yêu C1 tôi cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng), tôi nhất trí và không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng thủ tục tố tụng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 82, 83, 107, 110, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021 cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về án phí sơ thẩm: Buộc anh Hoàng Minh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 238 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của chị Lương Thị M:

Theo Quyết định số 75/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng, chị Lương Thị M và anh Hoàng Minh T cùng thỏa thuận: Chị M là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021 đến tuổi trưởng thành. Chị M tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, đến nay do nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của con tăng lên nên chị M có đơn yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000đồng/tháng. Anh Hoàng Minh T cũng nhất trí với yêu cầu của chị M và có đơn xin đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 82, 83, 107, 110, 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị M, buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với mức cấp dưỡng là 2.000.000đồng/tháng.

Do chị Lương Thị M và anh Hoàng Minh T đều không có ý kiến gì về thời điểm bắt đầu cấp dưỡng nuôi con, nên anh Hoàng Minh T sẽ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.

[4] Về án phí: Anh Hoàng Minh T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 5 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 82, 83, 107, 110, 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị M. Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là Hoàng Minh C, sinh ngày 21/10/2021, mức cấp dưỡng 2.000.000đồng/tháng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật cho đến khi con đủ 18 tuổi.

2. Về án phí: Buộc anh Hoàng Minh T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ