- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Lê Quang V - Lê Thị C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2017/HN – PT Ngày: 06/11/2017 V/v “T/c về cấp dưỡng nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Dũng
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Thế Xương
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Minh Phượng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 06 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2017/TLPT- HN ngày 11 tháng 10 năm 2017 về “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 62/2017/HNGĐ – ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện M bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 252/2017/QĐ – PT ngày 23 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Quang V, sinh năm 1982;
Địa chỉ cư trú: ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Lê Thị C, sinh năm 1982;
Địa chỉ cư trú: ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre.
- Người kháng cáo: Bị đơn Lê Thị C.
Các đương sự có mặt tại tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn Lê Quang V trình bày:
Anh và chị Lê Thị C đã được Tòa án nhân dân huyện M giải quyết cho ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 37/2016/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2016. Theo đó, anh V trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 05/8/2013, chị C không phải cấp dưỡng nuôi cháu V. Còn chị C trực tiếp nuôi cháu Lê Minh L, sinh ngày 15/10/2014 và anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L là 575.000 đồng/tháng. Tuy nhiên do công việc và thu nhập hàng tháng của anh không đủ để cấp dưỡng nuôi cháu L và hiện nay anh còn phải nuôi cháu V cùng cha mẹ già nên anh yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi cháu V là 575.000 đồng/tháng. Trường hợp chị C không cấp dưỡng thì anh cũng yêu cầu anh không phải cấp dưỡng nuôi cháu L nữa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị C trình bày:
Chị cũng thống nhất với trình bày của anh V về việc anh chị đã ly hôn theo quyết định của Tòa án và về phần nuôi con cùng cấp dưỡng. Tuy nhiên từ khi có quyết định ly hôn đến nay anh V chỉ cấp dưỡng nuôi cháu L có 03 tháng là tháng 04, 05, 06/2016 cho đến nay anh V không cấp dưỡng nuôi con nữa. Hiện nay chị làm công nhân tại nhà máy may xuất khẩu Phong Phú, thu nhập khoảng 5.000.000 đồng/tháng. Còn anh V làm trưởng bộ phận cơ điện bảo trì của cùng công ty với chị, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng/tháng. Do đó, chị không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu V theo yêu cầu của anh V.
Sau khi không thể tiến hành hòa giải, Tòa án nhân dân huyện M đưa vụ án ra xét xử, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 62/2017/HNGĐ – ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Quang V.
Buộc chị Lê Thị C có nghĩa vụ cấp dưỡng để anh Lê Quang V nuôi con là cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 05/8/2013, mỗi tháng 575.000 đồng (năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)
Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 08/2017 cho đến khi cháu Lê Ngọc V tròn mười tám tuổi.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/9/2017 chị Lê Thị C có đơn kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem lại toàn bộ nội dung vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu V.
Anh Lê Quang V trình bày: anh còn phải nuoi cha mẹ già và cháu V nên yêu cầu giữ nguyên án sơ thẩm.
Hai bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về tố tụng: trong quá trình tố tụng, Tòa án và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng; về nội dung: án sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của anh V là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Theo đơn kháng cáo của chị Lê Thị C, chị không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Lê Ngọc V, chị C cho rằng chị không tự nguyện ký vào Đơn xin xét xử vắng mặt tại cấp sơ thẩm, tuy nhiên chị không cung cấp được chứng cứ chứng minh chị bị ép hay có sự đe dọa, chị cũng được tống đạt bản án và có quyền kháng cáo, nên quyền lợi của chị C vẫn được bảo đảm, không bị ảnh hưởng. Lý do thứ hai, chị C cho rằng nguyên đơn cung cấp chứng cứ sai sự thật về mức lương của đương sự, kèm theo đơn kháng cáo chị đã cung cấp chứng cứ là bảng lương của anh Lê Quang V, sự việc này chứng minh anh V và chị C đều có một mức thu nhập ổn định. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 37/2016/QĐST-HNGĐ ngày 12/4/2016 của Tòa án nhân dân huyện M, anh V trực tiếp nuôi con chung là cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 05/8/2013, chị C không phải cấp dưỡng nuôi cháu V, chị C trực tiếp nuôi cháu Lê Minh L, sinh ngày 15/10/2014 và anh V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu L là 575.000 đồng/tháng. Nay chứng minh chị C và anh V đều có thu nhập ổn định, như vậy yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu V của anh V là có căn cứ. Chị C còn kháng cáo cho rằng các bên đương sự không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, thấy rằng, tại giai đoạn sơ thẩm chị C yêu cầu được vắng mặt nên Tòa sơ thẩm không thể tiến hành hòa giải cho các bên thỏa thuận và tại phiên tòa hôm nay chị C không đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu V và cũng không thỏa thuận được nội dung vụ án nên không có cơ sở xem xét. Từ những phân tích trên, xét thấy cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V là phù hợp với quy định tại các Điều 82, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình, kháng cáo của chị C không có cơ sở nên không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Lê Thị C phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị C.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 62/2017/HNGĐ – ST ngày 22 tháng 8 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện M.
Cụ thể tuyên:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Quang V.
Buộc chị Lê Thị C có nghĩa vụ cấp dưỡng để anh Lê Quang V nuôi con là cháu Lê Ngọc V, sinh ngày 05/8/2013, mỗi tháng 575.000 đồng (năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng)
Thời gian cấp dưỡng được tính từ tháng 08/2017 cho đến khi cháu Lê Ngọc V tròn mười tám tuổi.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị C phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
3. Án phí phúc thẩm: Chị Lê Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008718 ngày 18/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh Bến Tre
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre; - TAND huyện M; - Chi cục THADS huyện M; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Dũng |