- Tranh chấp gì? Tranh chấp về cấp dưỡng — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thùy D - Lý Văn T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2018/HNGĐ-PT Ngày 10 -10 - 2018 V/v tranh chấp về cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Lệ Kiều
Bà Châu Minh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Chúc Ly – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 26/2018/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 8 năm 2018 về việc tranh chấp về cấp dưỡng.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 25/2018/QĐPT-HNGĐ ngày 17 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy D, sinh năm 1972 (có mặt)
Hộ khẩu thường trú: Số 186/16A, đường B, Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chỗ ở hiện nay: Số 34, đường số 1 M, Quận E, Thành Phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Lý Văn T, sinh năm 1960 (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số 36, Khóm A, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D trình bày:
Năm 2000 khi ông Lý Văn T đang học Đại học Cảnh sát tại C thì có mối quan hệ tình cảm với bà và có một con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005. Từ khi cháu K sinh ra đến nay một mình bà nuôi con, ông T không cấp dưỡng nuôi con. Ông T đi làm hưởng lương cơ bản mỗi tháng hơn 14.000.000 đồng và có nhiều tài sản khác. Chi phí nuôi cháu K hiện nay mỗi tháng 10.000.000 đồng. Bà yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 10.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi cháu K sinh ra cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi và cấp dưỡng một lần.
Bị đơn ông Lý Văn T trình bày:
Khi đang học Đại học cảnh sát tại C, ông và bà Nguyễn Thùy D có quan hệ tình cảm và có một con chung là cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005. Ông xác định cháu Nguyễn Hoàng K là con ruột của ông. Từ khi cháu K sinh ra, ông vẫn cấp tiền nuôi dưỡng cháu hàng tháng đều trên 1.000.000 đồng, có lần cho thêm 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và nhiều khoảng phát sinh thêm như: mua vật dụng học tập, máy vi tính phục vụ cho việc học…. Hiện nay ông đã nghỉ hưu, lương hưu khoảng 11.000.000 đồng mỗi tháng, cả gia đình ông chỉ nhờ vào lương hưu của ông. Đối với yêu cầu của bà D, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con, nhưng không đồng ý mức bà D đưa ra, mức cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Từ những nội dung nêu trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy D về việc yêu cầu ông Lý Văn T cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy D về việc buộc ông Lý Văn T cấp dưỡng một lần và thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 19/7/2005.
2. Buộc ông Lý Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005 mỗi tháng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/02/2018 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Bản án, quyết định đối với trường hợp cấp dưỡng phải được thi hành ngay.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí; lãi suất chậm trả trong giai đoạn thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 27 tháng 7 năm 2018, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xét xử buộc ông Lý Văn T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 19/7/2005 đến khi cháu Nguyễn Hoàng K đủ 18 tuổi và cấp dưỡng một lần. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Nguyễn Thùy D thay đổi một phần nội dung kháng cáo yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 06 tháng một lần, các phần kháng cáo khác giữ nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng, thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thùy D, giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của các đương sự, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Xét đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thùy D nộp trong hạn luật định và được miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đúng quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 273 và Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự, được chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm; bị đơn ông Lý Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo: Bà Nguyễn Thùy D và ông Lý Văn T thống nhất ý kiến: Ông T và bà D có mối quan hệ tình cảm với nhau và có một con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005. Từ khi sinh đến nay cháu K do bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Đến ngày 26/02/2018 bà D khởi kiện yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 10.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng từ khi cháu K sinh ra cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi và cấp dưỡng một lần. Ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con, nhưng không đồng ý mức bà D đưa ra, mức cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thùy D: Yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng K mỗi tháng 10.000.000 đồng. Căn cứ theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên…”. Như vậy, ông T không trực tiếp nuôi cháu K, nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà D là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình thì “Cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”. Vì vậy, nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu K là nghĩa vụ chung của bà D và ông T.
Về mức cấp dưỡng, tại khoản 1 Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”; tại mục 2 phần III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn “mức đóng góp phí tổn nuôi dưỡng, giáo dục con tối thiểu không dưới 1/2 (một phần hai) mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm đối với một người con”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Lý Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 1.500.000 đồng là có căn cứ.
Về thời gian cấp dưỡng, Hội đồng xét xử xét thấy ông Lý Văn T xác định từ khi cháu K sinh ra ông vẫn cấp tiền nuôi dưỡng cháu hàng tháng đều trên 1.000.000 đồng, có lần cho thêm 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng và nhiều khoảng phát sinh thêm như: mua vật dụng học tập, máy vi tính phục vụ cho việc học. Bà D xác định từ khi cháu K sinh ra, ông T có đưa tiền cho bà để phụ thêm với bà nuôi con, số tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, hai năm gần đây mỗi tháng đưa 2.000.000 đồng, từ ngày bà khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng thì ông T không đưa nữa. Như vậy, có căn cứ xác định từ khi cháu K sinh ra đến ngày bà D khởi kiện (ngày 26/02/2018), ông T có cấp dưỡng nuôi con chung.
Về kháng cáo yêu cầu cấp dưỡng nuôi con 06 tháng một lần. Xét thấy, tại Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định “Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hằng tháng, hằng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần…nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”. Xét thấy, hiện nay ông T nhận lương hưu theo tháng, không phải nhận một lần và ông T không đồng ý cấp dưỡng theo yêu cầu của bà D, nên tòa cấp sơ thẩm buộc ông T cấp dưỡng cho cháu K hàng tháng là có căn cứ.
Từ những phân tích nêu trên, không có căn cứ chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thùy D; có căn cứ chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Án phí dân sự phúc thẩm, bà Nguyễn Thùy D được miễn án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 28, 38, 39, 147 và 227 Bộ luật Tố tụng dân;
Căn cứ Điều 69, 71, khoản 2 Điều 82, Điều 110, khoản 1 Điều 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thùy D. Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 30/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy D về việc yêu cầu ông Lý Văn T cấp dưỡng nuôi con chung tên Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy D về việc buộc ông Lý Văn T cấp dưỡng một lần và thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 19/7/2005.
2. Buộc ông Lý Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 19/7/2005 mỗi tháng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 26/02/2018 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi. Bản án, quyết định đối với trường hợp cấp dưỡng phải được thi hành ngay.
3. Về án phí:
Ông Lý Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thùy D được miễn án phí.
4. Kể từ ngày Bản án, Quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TANDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - TAND thành phố B; - CCTHADS thành phố B; - Các đương sự; - Lưu Tổ HCTP, hồ sơ vụ án. | (Đã ký) Trương Thanh Dũng |