vanban.org

Bản án 41/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự. * Xử phạt: Bị cáo Phạm Hải L 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/12/2025). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. * Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Đi…"
  • Tòa quyết gì? I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 –THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HS-ST
Ngày: 11-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6-THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hiếu; Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6- Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hải L, sinh ngày 20 tháng 11năm 2001, tại: Phường Q, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số 038201014097 do Cục trưởng Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 28/6/2021; nơi cư trú: Số A H, TDP A B, phường Q, phường tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; con ông Phạm Anh T (sinh năm 1974) và bà Lê Thị H (sinh năm 1976); bản thân chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/9/2025 đến ngày 24/9/2025 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo L có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: 1. Chị Hoàng A sinh năm 1994

Trú tại: Số nhà C V, TDP F N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).

2. Chị Lê Thị Mai H1, sinh năm 1988

Trú tại: TDP D P, phường Q, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Hoàng Sỹ T1, sinh năm 1992.

Trú tại: Số E Ngõ D T, phường Đ, Thành phố Hà Nội

(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976

Địa chỉ: TDP A B, phường Q, phường tỉnh T ((có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trước đây Phạm Hải L là công nhân của Công ty TNHH H3 có địa chỉ tại Khu công nghiệp B (thuộc phường Q, tỉnh Thanh Hóa), sau đó L nghỉ làm đi ra Hà Nội. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 14 giờ ngày 13/9/2025, L bắt xe khách đi từ Hà Nội về Công ty TNHH H3 để trộm cắp tài sản.Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, L về đến Công ty TNHH H3 ngồi gần bãi đất trống bên hông công ty để quan sát. Thấy mọi người trong công ty đã về, L trèo lên bờ tường nhảy vào bên trong rồi mở cửa sắt tầng 1 theo hướng cầu thang bộ lên tầng 2 khu văn phòng công ty. Thấy cửa phòng không khóa, L đi vào bên trong, thấy 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu trắng bạc loại màn hình 15 icnh của chị Hoàng A (sinh năm 1994, trú tại số C, Võ Thị S, TDP N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa) đang để trên bàn làm việc, L lén lút lấy sạc máy tính bỏ vào túi quần bên trái, tay trái cầm máy tính xách tay rồi mở cửa đi ra bên ngoài. Khi ra bên ngoài, L cởi áo phông màu xám rồi lấy chiếc máy tính xách tay bỏ vào trong ba lô. Sau đó, L gọi tổng đài hãng T2 chở đến khu vực khách sạn T3 (thuộc Tổ dân phố A N, phường Q, tỉnh Thanh Hóa) để bắt xe khách ra Hà Nội. Đến 21 giờ cùng ngày, L về nhà trọ tại địa chỉ phòng C, nhà số D, ngõ C Hồ T, phường N, Thành phố Hà Nội. Đến trưa ngày 15/9/2025, L nghe thông tin lực lượng công an đang điều tra vụ việc Công ty H4 bị mất trộm nên sáng ngày 16/9/2025 L đến Công an phường Q đầu thú, giao nộp tài sản đã trộm cắp và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Trong quá trình điều tra Phạm Hải L còn khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 23 giờ ngày 09/8/2025 L đang ở nhà tại số A H, Tố dân phố A B, phường Q, tỉnh Thanh Hóa thì nhớ lại tại một số bàn làm việc ở khu N nhân viên có thói quen để máy tính xách tay (laptop) trên bàn làm việc sau giờ làm, nhưng không khóa cửa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L đi bộ từ nhà đến Công ty Happy star, sau đó trèo tường vào bên trong đi cầu thang bộ lên tầng 2 rồi vào phòng họp số 2, khu văn phòng của Công ty thấy trên bàn làm việc của chị Lê Thị Mai H1, sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố D P, phường Q có 01 máy tính xách tay màu trắng bạc, nhãn hiệu HP, loại 15inch đang để giữa bàn, L lén lút lấy trộm rồi đi bộ về nhà, khi về tới nhà, L cất máy tính vào phòng ngủ của L. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 10/8/2025, L bắt xe khách đi Hà Nội về nhà trọ tại địa chỉ phòng C, nhà số D, ngõ C Hồ T, phường N, thành phố Hà Nội để nằm ngủ. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 11/8/2025, L mang chiếc máy tính xách tay trộm cắp được đến cửa hàng T4 tại số E, ngõ D T, phường Đ, thành phố Hà Nội do anh Hoàng Sỹ T1, sinh năm 1992 làm chủ cửa hàng bán được 6.800.000 đ (sáu triệu tám trăm nghìn đồng). Sau đó, anh T1 chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của L số 187868637 mở tại Ngân hàng V rồi viết hóa đơn mua bán cho L. Sau khi nhận tiền, L đã tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu trắng bạc; device ID: 9F50E0A4-14C5-4A87-8378-2A32AAB50EC2; Product ID: 00327-35933-45493-AAOEM, máy tính xách tay đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 pro màu đen, số máy: MQ0N3LL/A, số sê ri: C6LXQ2VWWN (do Phạm Hải L giao nộp).

- 01 (một) Máy tính xách tay (NB) HP Pavilion, i5-eg2083TU (7C0W9PA), Hiệu HP màu trắng bạc, góc phải thân máy dưới bàn phím có gắn 01 tem màu xanh Intel Core i5, và 01 tem Intel Iris GRARHICS đã qua sử dụng (do anh Hoàng Sỹ T1 giao nộp).

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T khám xét nơi ở của Phạm Hải L ở nhà trọ tại phòng 302, nhà số D, ngõ C Hồ T, phường N, Thành phố Hà Nội thu giữ: 01 đôi giày thể thao màu xám, viền trắng dán nhãn ULTRABOOST, cỡ giày 43, đã qua sử dụng, phần viền giày và đế có bám dính nhiều đất; 01 quần chun dài, màu đen đã qua sử dụng, phía trước và phía sau có bám dính đất; 01 balo màu đen, viền trắng, hai túi phía trước màu trắng có ghi chữ “DEGREY”; 01 áo phông màu xám, áo đã qua sử dụng.

* Kết quả định giá tài sản:

- Tại kết luận định giá tài sản số 405/KL-HĐĐG ngày 17/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND tỉnh T kết luận: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu trắng bạc, máy đã qua sử dụng, device ID: 9F50E0A4-14C5-4A87-8378-2A32AAB50EC2; Product ID: 00327-35933-45493-AAOEM, mặt trên bàn phím máy tính có dán 01 tem intel core i7 màu xành và 01 tem intel IRIS XE Graphics màu trắng đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị là 10.000.000 đ (mười triệu đồng).

- Tại kết luận định giá tài sản số 01/KLHĐĐGngày 16/10/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự UBND phường Q kết luận: 01 (một) Máy tính xách tay (NB) HP Pavilion, I5-Eg2083TU (7C0W9PA), hiệu HP màu trắng bạc, góc phải thân máy dưới bàn phím có gắn 01 tem màu xanh Intel Core i5, và 01 tem Intel Iris GRARHICS đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị là 10.000.000đ (mười triệu đồng).

* Kết quả giám định dữ liệu điện tử:

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T thu giữ 03 đoạn video từ camera an ninh của Công ty TNHH H3.

Tại Kết luận giám định số 4070/KL-KTHS ngày 23/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tệp video “v1.mp4” gửi giám định có nội dung hình ảnh không liên tục, không xác định được nguyên nhân, nội dung hình ảnh không bị cắt ghép chỉnh sửa. Không xác định được nội dung hình ảnh trong tệp video “v2.mp4”, “v3.mp4” có bị chỉnh sửa, cắt ghép không - Do nội dung hình ảnh được ghi lại từ màn hình của thiết bị.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKSKV6 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - Thanh Hoá đã truy tố Phạm Hải L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6- Thanh Hoá đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

Tuyên bố bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về áp dụng pháp luật và mức hình phạt: đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 BLHS đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về vật chứng: đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ các tài sản cá nhân của bị cáo gồm 01 đôi dày thể thao màu xámviền trắng dán chữ “ULTRABOOT” cỡ 43 đã qua sử dụng, 01 quần chun dài màu đen đã qua sử dụng, 01 Ba lô màu đen viền trắng hai túi phía trước có ghi chữ “DEGREY”; 01 áo phông màu xám đã qua sử dụng.

Đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Phạm Hải L nộp tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T; Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo Phạm Hải L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án HĐXXcó đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ ngày 09/8/2025 đến ngày 13/9/2025, Phạm Hải L đã lén lút thực hiện hành vi trộmcắp tài sản của chị Hoàng A 01 máy tính xách tay nhãn hiệu HP màu trắng bạc, máy đã qua sử dụng, device ID: 9F50E0A4-14C5-4A87-8378-2A32AAB50EC2; Product ID: 00327-35933- 45493-AAOEM, mặt trên bàn phím máy tính có dán 01 tem intel core i7 màu xành và 01 tem intel IRIS XE Graphics màu trắng đã qua sử dụng và của chị Lê Thị Mai H1 01 Máy tính xách tay (NB) HP Pavilion, I5-Eg2083TU (7C0W9PA), hiệu HP màu trắng bạc, góc phải thân máy dưới bàn phím có gắn 01 tem màu xanh Intel Core i5, và 01 tem Intel Iris GRARHICS đã qua sử dụng tại khu nhà văn phòng Công ty TNHH H3 có địa chỉ tại Khu công nghiệp B (thuộc phường Q, tỉnh Thanh Hóa). Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.000.000 đ. Tổng giá trị tài sản 02 chiếc máy tính xách tay bị cáo chiếm đoạt là: 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng). Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS. Cáo trạng của VKSND Khu vực 6 - Thanh Hoá truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạmtội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo bằng một mức án nghiêm minh nhằm răn đe giáo dục đối với bị cáo và nhằmđấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trên địa bàn dân cư.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thật thà, thành khẩn, đã tự giao nộp tài sản trộm cắp và khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại khoản tiền bảo dưỡng mãy tính cho các bị hại, bồi thường cho anh H2 Sỹ Thế số tiền 6.800.000 đ. Ngoài ra HĐXX cũng xét, sau khi phạm tội đã đến cơ quan công an đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được các tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự, bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Xét về nhân thân: Xét bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bản thân phải chịu một tình tiết tăng nặng là phạmtội từ 02 lần trở lên. Tuy nhiên, HĐXX cũng xét, hai lần phạm tội của bị cáo đều thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo đủ điều kiện để HĐXX cho hưởng án treo để cải tạo tại địa phương, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là “Phạt tiền” đối với bị cáo. Đối với hành vi mua máy tính của anh Hoàng Sỹ T1 khi mua máy anh T1 không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không xem xét xử lý đối với anh Thế là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm Dân sự: 02 máy tính xách tay do bị cáo trộm cắp của chị Hoàng A và chị Lê Thị Mai H1 đã được trả lại cho các bị hại. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện bồi thường cho chị Hoàng A và chị Lê Thị Mai H1 mỗi người 1 triệu đồng về khoản tiền bảo dưỡng máy tính xách tay và bồi thường cho anh Hoàng Sỹ T1 số tiền 6.800.000 đvề khoản tiền anh T1 bỏ ra mua lại máy tính. Các bị hại và anh Hoàng Sỹ T1 không đề nghị gì thêm nên không xét.

[ 5] Về tang vật tài sản tạm giữ:

Đối với 01 đôi dày thể thao màu xám viền trắng dán chữ “ULTRABOOT” cỡ 43 đã qua sử dụng; 01 quần chun dài màu đen đã qua sử dụng; 01 Ba lô màu đen viền trắng; 01 áo phông màu trắng có ghi chữ “DEGREY”; 01 áo phông màu xám là những đồ dùng của bị cáo. Tại phiên toà bị cáo trình bày không có yêu cầu nhận lại những đồ vật trên, nên căn cứ điểm c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu huỷ những đồ vật nói trên.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Hải L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

* Xử phạt: Bị cáo Phạm Hải L 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/12/2025).

Giao bị cáo Phạm Hải L cho UBND phường Q, tỉnh Thanh Hoá quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạmnghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

* Về tang vật tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ 01 đôi dày thể thao màu xám viền trắng dán chữ “ULTRABOOT” cỡ 43 đã qua sử dụng; 01 quần chun dài màu đen đã qua sử dụng; 01 Ba lô màu đen viền trắng hai túi phía trước có ghi chữ “DEGREY”; 01 áo phông màu xám đã qua sử dụng (Vật chứng được bàn giao và mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6-Thanh Hoá).

II. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Phạm Hải L phải nộp án phí HSST là: 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/12/2025).Bị hại - chị Hoàng A và chị Lê Thị Mai H1 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Toà án niêm yết công khai bản án.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan-anh Hoàng Sỹ T1 được quyền kháng cáo về phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Toà án niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ