- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô văn C - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 41/2024/HS-ST Ngày: 16/07/2024 |
HUYỆN THANH THỦY Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Thủy Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Mạnh Hùng – Nguyên là giáo viên. Hiện nay, Phó phòng Văn hóa và thông tin – UBND huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. 2. Ông Nguyễn Thành Lâm – Cán bộ hưu ở tại xã Đào Xá, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Tấn – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Hồng Quang - Kiểm sát viên. Hôm nay 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo: Ngô Văn C sinh ngày 10/8/1964 tại huyện T, tỉnh P; Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện T, tỉnh P; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn N (đã chết); con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); Có vợ: Nguyễn Thị T sinh năm 1965 có 02 con: Lớn nhất sinh năm 1988 và nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/02/2024 đến nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Cháu Dương Khánh N sinh ngày 14 tháng 8 năm 2010 (đủ 13 tuổi 5 tháng 20 ngày). (Vắng mặt) Nơi cư trú: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Lệ T sinh năm 1976 là mẹ đẻ của cháu N. (Có mặt) Nơi cư trú: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Hà Thị Lan H – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P. (Có đơn xin xét xử vắng mặt). Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T sinh năm 1965(Có mặt) Nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện T, tỉnh P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 04/02/2024, Ngô Văn C, sinh năm 1964, trú tại: Khu 1, xã T, huyện T, tỉnh P đến nhà bà Nguyễn Thị P (là mẹ vợ của C), sinh năm 1934, trú tại: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P để làm giúp việc nhà. Tại đây, C gặp cháu Dương Khánh N, sinh ngày 14/8/2010 (đủ 13 tuổi 5 tháng 20 ngày), trú tại: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P đang chơi ở nhà bà P, qua tiếp xúc nên C biết cháu N có vấn đề về thần kinh, chậm phát triển. Sau đó, C rủ cháu N về nhà C chơi thì cháu N đồng ý, khi về đến nhà, C đóng cổng rồi cùng cháu N ngồi chơi ở bàn uống nước kê tại sân nhà C, tại đây, cháu N nhìn thấy có 24.000đ để ở dưới ngăn bàn uống nước nên hỏi xin thì C cầm lên đưa cho N rồi dùng tay phải cầm gấu áo bên trái của cháu N kéo lên làm lộ phần áo ngực bên trái, thấy cháu N không phản ứng gì, C tiếp tục quay sang dùng cả hai tay nắm vào hai bên gấu áo của cháu N kéo lên để lộ áo ngực và kéo áo ngực xuống làm lộ hai đầu vú rồi dùng miệng liếm hai đầu vú của cháu N. Lúc này, cháu N không phản ứng gì mà đòi vào nhà chơi thì C mở cửa chính và cùng N đi vào trong phòng khách. Khi vào trong nhà, cháu N thấy có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen để ở cửa sổ nên hỏi xin thì C đồng ý. Sau đó, cháu N ngồi chơi ở giường kê tại phòng khách, thấy vậy, C khép cửa chính, bảo N nằm xuống giường rồi dùng hai tay nắm vào cạp quần đùi và quần lót của cháu N kéo xuống ngang đầu gối để lộ vùng âm hộ rồi C tự cởi quần của mình để lộ ra dương vật. Sau đó, C nằm đè lên người cháu N, dùng tay kéo áo váy và áo ngực của cháu N, liếm hai đầu vú của cháu N rồi cho dương vật đã cương cứng vào âm đạo của cháu N. C cho dương vật ra vào âm đạo nhiều lần trong khoảng thời gian 2 phút thì xuất tinh bên ngoài âm đạo của cháu N. Sau khi xuất tinh, C lấy giấy vệ sinh đưa cho cháu N để cháu N tự lau vùng âm hộ còn C dùng giấy vệ sinh lau phần tinh dịch dính trên ga trải giường rồi mặc lại quần và cầm những mảnh giấy vệ sinh mà C và cháu N vừa lau tinh dịch vứt ra vườn. Về phần cháu N, sau khi lau tinh dịch của C dính trên người, cháu N tự mặc lại quần áo và được C đưa về quán bán hàng của chị Nguyễn Lệ T (mẹ cháu N), sinh năm 1976, trú tại: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P. Tại đây, qua lời cháu N, chị T biết được nội dung sự việc nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trình báo. - Tại Bản kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 03/KLTDTE/TTPY ngày 05/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: “+ Tổn thương bộ phận sinh dục của cháu Dương Khánh N là: Màng trinh rách cũ ở các vị trí 03 giờ, 06 giờ, 07 giờ; + Không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng trong dịch xung quanh âm hộ, âm đạo của cháu Dương Khánh N; + Cháu Dương Khánh N không có thai.” - Tại Bản kết luận giám định khả năng sinh dục nam số 04/KLKNTD/TTPY ngày 07/02/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Thọ kết luận: “+ Bộ phận sinh dục của ông Ngô Văn C đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường không có dấu vết tổn thương, đủ điều kiện để thực hiện giao hợp khi dương vật cương cứng; + Ông Ngô Văn C không bị nhiễm virut HIV/AIDS.” - Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 49/KLGĐ ngày 24/4/2024 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận:
“+ Dương Khánh N, sinh năm 2010, trú tại: Khu 8, xã T, huyện T, tỉnh P bị bệnh: Rối loạn cảm xúc, hành vi/Chậm phát triển tâm thần vừa, có mã F71 (Theo bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 về các rối loại tâm thần và hành vi). + Tại thời điểm bị xâm hại vào ngày 04/02/2024, Dương Khánh N bị bệnh: Rối loạn cảm xúc, hành vi/Chậm phát triển tâm thần vừa. Dương Khánh N hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. + Hiện tại (thời điểm giám định) Dương Khánh N bị bệnh : Rối loạn cảm xúc, hành vi/Chậm phát triển tâm thần vừa. Dương Khánh N hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi. ” - Tại Bản kết luận giám định sinh học số 1088/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: “Trên ba tờ giấy, dạng giấy ăn đã qua sử dụng gửi giám định đều có bám dính tinh trùng người và đều là tinh trùng của Ngô Văn C.” Về nguyên nhân, động cơ, mục đích: Do muốn thỏa mãn nhu cầu sinh lý về tình dục của bản thân, Ngô Văn C đã thực hiện hành vi phạm tội. Về xác minh tài sản: Bị cáo Ngô Văn C làm nghề lao động tự do, ngoài những tài sản, vật dụng chung phục vụ sinh hoạt hàng ngày, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Về dân sự: Hai bên đã tự thỏa thuận giải quyết, tự nguyện bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xử lý. Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng bị thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKSTT ngày 24/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Ngô Văn C về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 và khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn C từ 4(Bốn) năm 6(Sáu) tháng đến 5 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/2/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, đã cũ, không lắp sim, bật không lên nguồn. Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 24.000đ (Hai mươi tư nghìn đồng) gồm: 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 2.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 1.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) quần vải, loại quần bò, màu xanh có chiều dài 99cm, cạp quần rộng 42,5cm, chân ống quần mỗi bên rộng 18 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải, loại quần đùi màu xanh có chiều dài 40cm, cạp quần rộng 32 cm, chân ống quần mỗi bên rộng 17cm, đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông, cộc tay, màu xanh dài 75 cm, vạt áo rộng 50cm, đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận gia đình bị cáo Ngô Văn C đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Lệ T số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), đại diện gia đình bà Nguyễn Lệ T đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường
gì thêm và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ngô Văn C. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Hà Thị Lan H có quan điểm về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo nguyện vọng của đại diện người bị hại đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật, về phần dân sự trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã đến xin lỗi và thỏa thuận mức bồi thường cho cháu N là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng). Mẹ cháu N là bà Nguyễn Lệ T đã đồng ý chấp nhận khoản tiền bồi thường này của gia đình bị cáo và không yêu cầu gì thêm. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường này là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận bồi thường này. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ngô Văn C không có ý kiến gì về bản cáo trạng và đồng ý với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ. Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Ngô Văn C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bị hại vắng mặt, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Xét thấy bị hại vắng mặt nhưng có người đại diện hợp pháp cho bị hại tham gia phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp. [2]. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn C có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở kết luận:
Chiều ngày 04/02/2024, tại nhà của mình ở khu 1, xã T, huyện T, tỉnh P, Ngô Văn C đã lợi dụng việc cháu Dương Khánh N, sinh ngày 14/8/2010 (đủ 13 tuổi 5 tháng 20 ngày) bị hạn chế khả năng nhận thức và hạn chế khả năng điều khiển hành vi để thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với cháu Dương Khánh N. Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Văn C thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật hình sự. Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ; …”. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe và sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của cháu N, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của cháu N. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Ngô Văn C có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo C thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai tại Tòa bị cáo có thời gian đi bộ đội đóng góp cho đơn vị rất nhiều thành tích góp phần không nhỏ đưa đơn vị vững mạnh và được thưởng nhiều giấy khen, bằng khen trong thời gian đi bộ đội nay về quê hương do thất lạc gia đình không tìm thấy giấy khen và bằng khen của bị cáo, ở địa phương bị cáo là công dân tốt chấp hành đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động gia đình mà đặc biệt là vợ bị cáo là bà Nguyễn Thị T đã đại diện gia đình đến xin lỗi gia đình cháu N và bồi thường số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng) cho gia đình bị hại và tại phiên tòa bị cáo xin lỗi cháu Dương Khánh N và bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ cháu N và gia đình bị hại. Gia đình bị hại là bà Nguyễn Lệ T mẹ đẻ của cháu N đã nhận tiền bồi thường của gia đình bị cáo C, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật cho bị cáo Ngô Văn C. Tại phiên tòa bà Nguyễn Lệ T là mẹ đẻ cháu Dương Khánh N cũng không yêu cầu bị cáo Ngô Văn C bồi thường gì thêm. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội, cháu Dương Khánh N đủ 13 tuổi 5 tháng 20 ngày (dưới 16 tuổi) và bị hạn chế khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tuy nhiên, tình tiết này đã dùng làm tình tiết định tội đối với bị cáo nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi” theo điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử lý bị cáo Ngô Văn C thật nghiêm khắc. Căn cứ vào tính chất vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển bình thường về tâm sinh lý của bị hại, gây ảnh hưởng sấu đến an ninh, trật tự xã hội. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình
phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra thì mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu. [3]. Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, Cơ quan điều tra xác định ngoài tài sản chung phục vụ sinh hoạt hàng ngày, bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Đối với 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, đã cũ, không lắp sim, bật không lên nguồn và tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 24.000đ (Hai mươi tư nghìn đồng) gồm: 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 2.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 1.000 đồng của bị cáo Chiến cho cháu N nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với 01 quần vải, loại quần bò, màu xanh có chiều dài 99cm, cạp quần rộng 42,5cm, chân ống quần mỗi bên rộng 18 cm, đã qua sử dụng; 01 quần vải, loại quần đùi màu xanh có chiều dài 40cm, cạp quần rộng 32 cm, chân ống quần mỗi bên rộng 17cm, đã qua sử dụng; 01 áo phông, cộc tay, màu xanh dài 75 cm, vạt áo rộng 50cm, đã qua sử dụng là tài hợp pháp của bị cáo C. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy. [5]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo Ngô Văn C đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Lệ T số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), đại diện gia đình bà Nguyễn Lệ T đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ngô Văn C cần được xác nhận. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật. [8] Các quyết định Tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp. Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Thủy tại phiên toà phù hợp với quy định của pháp luật. V ì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Ngô Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Xử phạt bị cáo Ngô Văn C 4 (Bốn) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/02/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, đã cũ, không lắp sim, bật không lên nguồn.
Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 24.000đ (Hai mươi tư nghìn đồng) gồm: 01 tờ mệnh giá 10.000 đồng; 02 tờ mệnh giá 5.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 2.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 1.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy: 01 quần vải, loại quần bò, màu xanh có chiều dài 99cm, cạp quần rộng 42,5cm, chân ống quần mỗi bên rộng 18 cm, đã qua sử dụng; 01 quần vải, loại quần đùi màu xanh có chiều dài 40cm, cạp quần rộng 32 cm, chân ống quần mỗi bên rộng 17cm, đã qua sử dụng; 01 áo phông, cộc tay, màu xanh dài 75 cm, vạt áo rộng 50cm, đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận sau khi sự việc xảy ra, gia đình bị cáo Ngô Văn C đã bồi thường cho gia đình bà Nguyễn Lệ T số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), đại diện gia đình bà Nguyễn Lệ T đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn giảm trách nhiệm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ngô Văn C nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Ngô Văn C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Thanh Thuỷ; - Công an huyện T; - CQTHAHS huyện Thanh Thuỷ; - Chi cục THA huyện Thanh Thuỷ; Đã ký - UBND xã T; - Sở tư pháp tỉnh P; - Bị cáo; Bị hại; - NĐDHP cho bị hại; Nguyễn Thị Hương Thuỷ - NBVQ&LIHPC bị hại; Nguyễn Thị Hương Thuỷ - NCQL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. ––––––––––––––– - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Thanh Thuỷ; - Công an huyện T; Đã ký - CQTHAHS huyện Thanh Thuỷ; - Chi cục THA huyện Thanh Thuỷ; - UBND xã T; - Sở tư pháp tỉnh P; - Bị cáo; Bị hại; Nguyễn Thị Hương Thuỷ - NĐDHP cho bị hại; - NBVQ&LIHPC bị hại; - NCQL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. ––––––––––––––– Thanh Thuỷ, ngày 17 tháng 7 năm 2024 - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND huyện Thanh Thuỷ; - Công an huyện T; Đã ký - CQTHAHS huyện Thanh Thuỷ; - Chi cục THA huyện Thanh Thuỷ; - UBND xã T; - Sở tư pháp tỉnh P; - Bị cáo; Bị hại; Nguyễn Thị Hương Thuỷ - NĐDHP cho bị hại; - NBVQ&LIHPC bị hại; - NCQL&NVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH THUỶ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH PHÚ THỌ Thanh Thuỷ, ngày 18 tháng 7 năm 2024 Số: 41/2024/TB-TA THÔNG BÁO SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ có lỗi do nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau: 1. Về nội dung tại dòng thứ 5 từ dưới lên trang 5 của Bản án nêu trên đã ghi: C bồi thường gì thêm. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: C bồi thường gì thêm. Do đó, trong vụ án này bị cáo được 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 và 1 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên bị cáo đủ điều kiện để được áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự. 2. Về nội dung tại dòng thứ 2 và dòng thứ 3 từ trên xuống trang 6 của Bản án nêu trên đã ghi: theo điểm k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử lý bị cáo Ngô Văn C thật nghiêm khắc. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: và “phạm tội đối với người bị hạn chế khả năng nhận thức” theo điểm i, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. 3. Bổ sung thêm nơi nhận: Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH THUỶ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH PHÚ THỌ ố: 42/2024/TB-TA THÔNG BÁO SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Xét thấy Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ có lỗi do nhầm lẫn cần được sửa chữa, bổ sung như sau: 1. Về nội dung tại dòng thứ 18 từ trên xuống dưới trang 7 của Bản án nêu trên đã ghi: dụng. Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thuỷ đang quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/7/2024). Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |