vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tuyên án 15/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS của Bộ Luật hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số 0395364442, số IMEL: 35281210500354701. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Bình - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS của Bộ Luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ S
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày 15/9/ 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ S, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Ông Sùng A Cở

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Là thư ký Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lồ Kim Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã S, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1972 tại huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. ĐHKTT: Thôn Vàng, xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Tổ 7, phường Sa Pa, thị xã S, tỉnh Lào Cai. Trình độ học vấn: 04/12; Tiền án, tiền sự: Không; Con ông: Nguyễn Xuân Ban và bà Triệu Thị Cam; Vợ là Hoàng Thị Mây, sinh năm 1973, trú tại xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2023 hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. Có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/5/2023, Tổ công tác của Công an thị xã S phối hợp với Công an phường Sa Pa làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 6, phường Sa Pa, thị xã S phát hiện Hoàng Văn Hoan đang đi bộ ở đường Đồng Lợi có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên đã yêu cầu Hoan dừng lại và đưa về trụ sở Công an phường Sa Pa, đồng thời, mời ông Trần Văn Thơ làm người chứng kiến sự việc. Tại đây, Tổ công tác tiến hành kiểm tra phát hiện tại túi áo ngực phía trong, bên trái của chiếc áo Hoàng Văn Hoan đang mặc 01 lọ nhựa có chiều cao khoảng 7cm, đường kính đáy khoảng 1,6cm, bên trong có chứa chất lỏng màu hồng, Hoan khai là Methadone mua của Nguyễn Văn B. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định. Đến 15 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thị xã S đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn B, thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải của chiếc quần Bình đang mặc trên người 01 lọ nhựa có chiều cao khoảng 6,5cm, đường kính đáy khoảng 2,5cm bên trong có chứa chất lỏng màu hồng, Bình khai là Methadone. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt, giữ người và biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Nguyễn Văn B nhận: Khoảng giữa tháng 05/2023, Nguyễn Văn B đi xe ôm từ tổ 7, phường Sa Pa đến khu vực xã Mường Hoa, thị xã S để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Sau khi đến nơi, Nguyễn Văn B đi bộ một mình ở khu vực đường tỉnh lộ 152 thuộc xã Mường Hoa thì gặp 01 người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ, mặc quần áo dân tộc H’Mông có biểu hiện giống người nghiện ma túy, Bình lại gần hỏi mua Heroine thì người đàn ông nói không có Heroine mà đưa cho Bình 01 lọ chứa chất lỏng màu hồng. Nguyễn Văn B biết chất lỏng này là Methadone nên đã đồng ý mua với giá 400.000 đồng rồi đi về nhà. Tại đây, Nguyễn Văn B sử dụng một phần Methadone vừa mua, còn lại cất giấu trên người để lần sau sử dụng tiếp. Sáng ngày 19/5/2023, Nguyễn Văn B xuống khu vực xã Mường Hoa chơi thì gặp Hoàng Văn Hoan đang tìm mua ma túy, do cùng là người nghiện ma túy, Bình lấy ra lọ Methadone và giới thiệu cho Hoan về loại thuốc có thể uống thay cho Heroine, Hoan bảo Bình bán lại cho mình một phần để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy, Bình đồng ý. Do không có lọ để chia ma túy nên Hoan và Bình trao đổi số điện thoại để liên lạc mua ma túy sau. Nguyễn Văn B đi về nhà tại tổ 7, phường Sa Pa, chia nửa số dung dịch Methadone trong lọ của mình sang 01 lọ thuốc nhỏ mắt rỗng để đưa cho Hoan, phần còn lại để bản thân sử dụng. Đến trưa cùng ngày, Hoàng Văn Hoan gọi điện thoại cho Nguyễn Văn B để lấy ma túy như đã giao hẹn, sau đó, Bình cầm lọ ma túy Methadone vừa chia trước đó đi bộ đến khu vực khách sạn Bamboo thuộc tổ 7, phường Sa Pa bán cho Hoan với giá 250.000 đồng rồi cả hai ra về. Đến ngày 21/5/2023, khi Hoàng Văn Hoan mang theo lọ ma túy Methadone trong người đi bộ ở khu vực tổ 6 phường Sa Pa, thị xã S thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Tại Bản kết luận giám định ma túy số 3795/KL-KTHS ngày 26/5/2023 của Viện Khoa học hình sự - Bộ công an kết luận chất lỏng trong 02 lọ nhựa (mẫu ghi thu của Hoàng Văn Hoan và mẫu ghi thu của Nguyễn Văn B) là dung dịch Methadone. Mẫu ghi thu của Hoàng Văn Hoan có thể tích 11,0ml, nồng độ (hàm lượng) Methadone là 5,79mg/ml; mẫu ghi thu của Nguyễn Văn B có thể tích 9,0ml, nồng độ (hàm lượng) Methadone là 5,47mg . Qua quy đổi, trọng lượng Methadone thu giữ của Hoàng Văn Hoan là 0,06369 gam, trọng lượng Methadone thu giữ của Nguyễn Văn B là 0,04923 gam. (Methadone có số thứ tự 48 thuộc danh mục II của Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma tuý và tiền chất).

Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” .

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra, xác định bị cáo Nguyễn Văn B không có tài sản riêng do đó không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số 0395364442, số IMEL: 352812105003547. Tịch thu tiêu hủy 4,0ml Methadone (hàm lượng 5,47mg/ml), 8,5ml Methadone (hàm lượng 5,79mg/ml); Truy thu số tiền 250.000 đồng bị cáo đã bán Methadone cho Hoàng Văn Hoan. Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn B nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thị xã S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo của Nguyễn Văn B bị cáo khai nhận: Khoảng giữa tháng 05/2023, Nguyễn Văn B gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ hỏi mua Heroine thì người đàn ông nói không có Heroine mà đưa cho Bình 01 lọ chứa chất lỏng màu hồng. Nguyễn Văn B biết chất lỏng này là Methadone nên đã đồng ý mua với giá 400.000 đồng rồi đi về nhà. Sau đó Bình sử dụng một phần Methadone vừa mua, còn lại cất giấu trên người để lần sau sử dụng tiếp. Sáng ngày 19/5/2023, Nguyễn Văn B chia nửa số dung dịch Methadone trong lọ của mình sang 01 lọ thuốc nhỏ mắt rỗng để đưa bán cho Hoan với giá 250.000 đồng, phần còn lại để sử dụng cho bản thân . Với mục đích mua 0,11292 gam Methadone nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại cho Hoàng Văn Hoan của Nguyễn Văn B đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn B là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, để có tiền tiêu sài cho bản thân, bị cáo Nguyễn Văn B cố ý thực hiện hành vi mua 0,11292 gam Methadone nhằm mục đích sử dụng cho bản thân và bán lại cho Hoàng Văn Hoan lấy tiền tiêu sài, vì vậy Nguyễn Văn B phải chịu trách nhiệm hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã S, vì vậy cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân Ban được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số 0395364442, số IMEL: 35281210500354701 bị cáo dùng việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước

Đối với 4,0ml Methadone (hàm lượng 5,47mg/ml), 8,5ml Methadone (hàm lượng 5,79mg/ml) toàn bộ vật chứng, niêm phong cũ. Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 250.000 đồng bị cáo bán methadone cho Hoàng Văn Hoan đã tiêu xài cá nhân hết cần truy sung quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn B không có tài sản riêng không áp dụng hình phạt bổ sung;

Vấn đề khác: Đối với 0,06369 gam Methadone thu giữ trên người Hoàng Văn Hoan, quá trình điều tra xác định Hoàng Văn Hoan tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cá nhân, tuy nhiên do khối lượng ma túy chưa đủ cấu thành tội phạm “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự, do vậy ngày 19/6/2023, Công an thị xã S ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn Hoan về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định lại Điểm a Khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ bằng hình thức phạt tiền, số tiền 3.500.000 đồng, xét thấy phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; BLHS của Bộ Luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02 ( Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/5/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Tịch thu sung quỹ Nhà Nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+, bên trong có chứa 01 thẻ sim Viettel số 0395364442, số IMEL: 35281210500354701.

Tịch thu tiêu hủy 4,0ml Methadone (hàm lượng 5,47mg/ml), 8,5ml Methadone (hàm lượng 5,79mg/ml) còn lại sau trích mẫu giám định trong 01 bì thư niêm phong dán kín số 3795/KL-KTHS của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, được niêm phong bởi các chữ ký ghi tên Nguyễn Phi Long, Đặng Thị Thủy và các hình dấu đỏ Viện khoa học hình sự - Bộ Công an.

(Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2023)

Truy thu số tiền 250.000 đồng của bị cáo Nguyễn Văn B.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ