vanban.org

Bản án 41/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An Tuyên án 17/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Bích L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Long An nhận được bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Bích L "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN LỨC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HS-ST
Ngày: 17-05-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Cao

Ông Tống Văn Truyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thuận- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 05 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Thị Bích L, sinh năm: 1984. Nơi ĐKTT: Ấp 5, xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: làm thuê. Giới tính: Nữ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 5/12. Con ông Trần Hữu Dư (chết) và bà Nguyễn Thị Thanh Duyên. Bị cáo đã ly hôn chồng, có 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo được tại ngoại điều tra (có mặt).

- Bị hại: Trương Thị Hồng Thắm, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp 4, xã Lương Bình, huyện Bến Lức, tỉnh Long An (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Phạm Bạch Khánh L, sinh năm 1996. HKTT: Số 334b, Khu phố 2, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh Long An. Chỗ ở: Số 649, TL 825, ấp B, xã D, huyện ĐH, tỉnh Long An (vắng mặt).

+ Nguyễn Thanh T, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số 272Đ/1, Khu vực 4, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh Long An (vắng mặt).

+ Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 272Đ/1, Khu vực 4, thị trấn ĐH, huyện ĐH, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 07/10/2022, chị Trương Thị Hồng T ngồi bán hàng rau, củ, quả cặp đường Ấp 4, xã L, huyện B và để điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh- bạc trong giỏ xách đan dây nhựa. Đến khoảng 07 giờ, Trần Thị Bích L điều khiển xe mô tô biển số 62P1-755.19 đến chỗ chị T mua rau thì thấy điện thoại của chị T trong giỏ xách, nên nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại bán lấy tiền tiêu xài. Lợi dụng chị T đang bán hàng cho khách không chú ý đến điện thoại, L lén lút lấy trộm điện thoại di động của chị T cất vào trong túi bên phải áo khoác đang mặc, rồi lấy 01 bó rau trả tiền cho chị T xong lên xe chạy đi đến tiệm mua bán điện thoại của chị Phạm Bạch Khánh Ly, địa chỉ: ấp Bình Tiền 1, xã ĐH Hạ, huyện ĐH để bán chiếc điện thoại vừa trộm được 4.200.000đồng. Sau khi khách mua đồ xong đi hết, chị T kiểm tra phát hiện mất điện thoại nên đến Công an xã Lương Bình trình báo. Qua trích xuất dữ liệu camera và xác minh, Công an xã Lương Bình mời L về trụ sở làm việc thì L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 86/KL-HĐĐG ngày 14/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức, định giá và kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh-bạc trị giá 6.245.000 đồng.

Sau khi vụ việc xảy ra, bị hại Trương Thị Hồng T đã nhận lại điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh-bạc, bị cáo L đã trả cho chị Phạm Bạch Khánh Ly số tiền 4.200.000đ, nên chị T và chị Ly không yêu cầu thêm về dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Bị cáo Trần Thị Bích L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Hành vi của bị cáo bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng tội bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 36/CT-VKSBL ngày 31/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Trần Thị Bích L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173. Tại phiên tòa, trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 50; Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thị Bích L từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị HĐXX không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Chị Ly, chị T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên đề nghị không xét đến.

- Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT có thu giữ:

+ 01 xe mô tô biển số 62P1-755.19, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen bạc, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thanh T, ông T giao cho Nguyễn Hoàng Tsử dụng làm phương tiện đi lại. Ông T và anh Tđều không biết L sử dụng vào việc trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức trả lại xe cho Nguyễn Thanh T là phù hợp.

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh bạc thuộc sở hữu của chị Trương Thị Hồng T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức trả lại cho chị T là phù hợp

+ 01 áo khoác dài tay màu hồng; 01 áo màu hồng, vải cotton; 01 quần dài màu đỏ, vải cotton của bị cáo L. Tại phiên tòa, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bến Lức, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Về hành vi của bị cáo: Bị cáo L khai nhận tại tòa, khoảng 07 giờ 00 phút ngày 07/10/2022, Trần Thị Bích L đến chỗ chị Trương Thị Hồng T bán hàng rau, củ, quả cặp đường Ấp 4, xã Lương Bình, huyện Bến Lức mua rau. Lợi dụng chị T lo bán hàng cho khách không chú ý quan sát, L lén lút trộm điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh-bạc của chị T đang để trong trong giỏ xách đan dây nhựa. Bị cáo thống nhất nội dung kết luận định giá tài sản số: 86/KL-HĐĐG ngày 14/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bến Lức định giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 6.425.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhưng với bản chất tham lam, động cơ mục đích vụ lợi, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của chị T là điện thoại Oppo Reno 7Z 5G. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi, bị cáo đang phải điều trị do bị tai nạn gãy xương đùi, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Hành vi của bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Xét tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, nghiêm khắc mới có tác dụng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích tại mục [4] để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện tại bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính của gia đình, phải nuôi con nhỏ một mình và điều trị gãy xương đùi, thu nhập của bị cáo không đủ để trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Do đó, Hội đồng xét xử xét xem xét xử phạt cải tạo không giam giữ và miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo L.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ là phù hợp với tính chất của vụ án và phù hợp quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ Khoản 5 Điều 173 BLHS, Hội đồng xét xử không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trương Thị Hồng T, chị Phạm Bạch Khánh Ly không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về vật chứng:

+ 01 xe mô tô biển số 62P1-755.19, nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen bạc, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thanh T, ông T giao cho Nguyễn Hoàng Tsử dụng làm phương tiện đi lại. Ông T và anh Tđều không biết L sử dụng vào việc trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức trả lại xe cho Nguyễn Thanh T là phù hợp.

+ 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 7Z 5G màu xanh bạc thuộc sở hữu của chị Trương Thị Hồng T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Bến Lức trả lại cho chị T là phù hợp.

+Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay màu hồng; 01 áo màu hồng, vải cotton; 01 quần dài màu đỏ, vải cotton.

Về hành vi của đối tượng L quan: Đối với Phạm Bạch Khánh Ly là người mua chiếc điện thoại mà bị cáo trộm được, nhưng chị Ly không biết tài sản trên do phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Bích L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Bích L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 36, Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Bích L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Long An nhận được bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Trần Thị Bích L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện ĐH, tỉnh Long An quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ kể từ ngày nhận được bản án có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định thi hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác dài tay màu hồng; 01 áo màu hồng, vải cotton; 01 quần dài màu đỏ, vải cotton. (Vật chứng hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức quản lý theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/4/2023)

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Thị Bích L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ L quan đến vụ án vắng mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ