vanban.org

Bản án 41/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 28/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Hoàng K 09 (Chín) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; thời hạn tù tính kể từ ngày 22/5/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàng K buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỂU CẦN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 41/2022/HSST
Ngày: 28-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trang Thị Cẩm Nhuần

Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2022, tại phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 42/2022/HSST ngày 09 tháng 9 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo Trần Hoàng K, sinh năm 1974, tại huyện L, tỉnh S; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Tr và bà Nguyễn Thị B; vợ: Nguyễn Lê Hoàng T và có 02 người con (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 22/5/2022 đến ngày 25/5/2022 chuyển sang tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lưu Thành P, sinh năm 1988 (Có mặt);

Chị Nguyễn Lê Hoàng T, sinh năm 1977 (Có mặt);

Cùng trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T

Chị Đinh Thị Ngọc Đ, sinh năm 1973 (Vắng mặt);

Trú tại: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng cuối tháng 4/2022, bị cáo Trần Hoàng K đến chợ Thuận An thuộc khóm 3, thị trấn Cầu Quan thì bị cáo gặp người phụ nữ tên H ở huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đang tiếp thị thuốc lá điếu. Khi thấy người phụ nữ trên tiếp thị thuốc lá điếu, bị cáo nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero và hiệu Jet về bán lại kiếm lời nên bị cáo và H gặp nhau thỏa thuận và H đồng ý bán thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo. Do đó, trong khoảng thời gian từ ngày 01/5/2022 đến ngày 18/5/2022 bị cáo mua thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero với giá 160.000 đồng/10 bao và hiệu Jet với giá 190.000 đồng/10 bao của H được khoảng 11 lần rồi bị cáo đem về nhà kho để cất giấu. Sau đó, bị cáo tìm người mua thuốc lá điếu nhập lậu để bán lại kiếm lời.

Đến khoảng 04 giờ ngày 22/5/2022, khi bị cáo điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 53X9-9793, từ hướng xã Tân Hòa về hướng thị trấn Cầu Quan, chở theo 01 (một) cái giỏ nhựa đan, màu vàng đỏ xanh để trên ba ga xe mô tô thì bị Công an huyện Tiểu Cần phối hợp với Công an xã Tân Hòa tiến hành kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ 300 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet. Ngoài ra, cơ quan Công an tiến hành khám xét tại nơi ở của bị cáo thu giữ 5.810 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero và 2.100 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet.

Qua làm việc, bị cáo thừa nhận 8.310 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 6.110 bao thuốc lá điếu, hiệu Hero và 2.200 bao thuốc lá điếu, hiệu Jet, là của bị cáo mua của H ở huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhưng không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể, đem về bán lại nhằm mục đích kiếm lời. Cụ thể bị cáo đã bán cho những người sau:

1/ Lưu Thành P, sinh năm 1988, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh T: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18/5/2022 tại nhà của P, bị cáo đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho P gồm 10 bao thuốc lá nhập lậu, hiệu Hero, giá 170.000 đồng và 10 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet, giá 200.000 đồng nhưng bị cáo chỉ lấy số tiền là 350.000 đồng.

2/ Đinh Thị Ngọc Đ, sinh năm 1973, ngụ ấp T, xã L, huyện T, tỉnh T: Khoảng giữa tháng 5/2022 bị cáo đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho Đ 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero, giá 165.000 đồng/10 bao, với số tiền 825.000 đồng.

3/ Đối tượng Tr: Bị cáo đã 02 lần bán thuốc lá điếu nhập lậu cho đối tượng Trí.

+ Lần thứ nhất: Khoảng 04 giờ ngày 21/5/2022 bị cáo đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho đối tượng tên Tr gồm 300 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero, giá 4.950.000 đồng tại khu vực cầu Bà Lãnh thuộc ấp Tân Đại, xã Hiếu Tử, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.

+ Lần thứ hai: Là lần bị bắt quả tang .

Đối với đối tượng tên H có dấu hiệu của tội Buôn bán hàng cấm nhưng chưa xác định được lai lịch và địa chỉ cụ thể nên chưa có cơ sở để xử lý. Do đó, cơ quan Công an tiếp tục chứng minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Tr, bị cáo khai không rõ lai lịch và địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với 01 (một) xe mô tô, kiểu Dream, biển kiểm soát 53X9-9793, không có giấy đăng ký xe mô tô, xe máy do bị cáo mua lại của người khác. Đồng thời, cơ quan điều tra đã tiến hành giám định.

Tại bản kết luận số 320/KL-KTHS ngày 09/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Xe mô tô hai bánh, mang biển số 53X9-9793, nhãn hiệu Honda, màu sơn nâu, số khung nằm trên cổ xe bị rỉ sét; số máy 1P50FMG-3*10764625* gửi giám định có số khung bị rỉ sét. Khôi phục được dãy ký tự 20012056; số máy không phát hiện dấu vết đục sửa.

Khi bắt quả tang thu giữ của bị cáo Trần Hoàng K: 01 (một) xe mô tô, kiểu Dream, biển kiểm soát 53X9-9793, màu nâu; 01 (một) cái giỏ nhựa đan, màu vàng đỏ xanh, trong giỏ có 02 (hai) bọc nylon, loại có quai xách, màu đen, có chứa 300 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet, còn nguyên vẹn, được đóng thành cây, mỗi cây có 10 bao và 02 (hai) điện thoại di động, trong đó có 01 (một) điện thoại di động, hiệu Nokia, màu đen, số thuê bao 0909.070.790 và 0989.850.509; 01 (một) điện thoại di động, hiệu Samsung, số thuê bao 0818.099.360 và 0767.918.472.

Khám xét tại nơi ở của bị cáo thu giữ 27 (hai mươi bảy) bọc nylon, loại có quai xách, màu đen, bên trong các bọc nylon có chứa 7.910 bao thuốc lá điếu nhập lậu, trong đó có 5.810 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Hero và 2.100 bao thuốc lá điếu nhập lậu, hiệu Jet, còn nguyên vẹn, được đóng thành cây, mỗi cây có 10 bao.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra chị Nguyễn Lê Hoàng T giao nộp số tiền 5.150.000 đồng do bị cáo buôn bán hàng cấm mà có.

Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần trả lại vật chứng, đồ vật, tài liệu như sau: Trả lại cho chị Nguyễn Lê Hoàng T 01 (một) điện thoại di động, hiệu Samsung, số thuê bao 0818.099.360 và 0767.918.472.

Tại bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần đã truy tố bị cáo Trần Hoàng K về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, sau khi phân tích hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vụ án như sau:

Về trách nhiệm hình sự:

- Đề nghị tuyên bố bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

- Đề nghị áp dụng: Điểm b Khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và 50 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoàng K từ 08 đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2022.

Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đến 30.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy 8.310 bao thuốc lá điếu, trong đó: 6110 bao hiệu Hero và 2.200 bao thuốc lá điếu hiệu Jet; 01 (một) cái giỏ nhựa đan, màu vàng đỏ xanh đã qua sử dụng; 29 (hai mươi chín) bọc nylon, loại có quai xách, màu đen, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01(một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, có số thuê bao 0909.070.790 và 0989.850.509 đã qua sử dụng của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước. 01 (một) xe Mô tô, kiểu Dream, hiệu Honda, biển kiểm soát 53X9-9793, màu nâu, không có giấy đăng ký chủ sở hữu, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước tổng số tiền buôn bán hàng cấm mà có của bị cáo là 5.300.000 đồng (Trong đó có 5.150.000 đồng do vợ bị cáo giao nộp vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần được mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Tiểu Cần quản lý), buộc bị cáo tiếp tục nộp bổ sung số tiền 150.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lưu Thành P trình bày: Khoảng 11 giờ ngày 18/5/2022, tại nhà anh, anh có mua của bị cáo 10 bao thuốc lá điếu hập lậu hiệu Hero và 10 bao hiệu Jet để sử dụng với số tiền 350.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đinh Thị Ngọc Đ trình bày: Chị không thừa nhận có mua thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Khải.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Lê Hoàng T: Chị không biết bị cáo buôn bán hàng cấm, chị giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 5.150.000 đồng là tiền bị cáo buôn bán hàng cấm mà có, đối với số tiền này chị không yêu cầu bị cáo trả lại vì bị cáo là chồng của chị.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội là hoàn toàn phù hợp với những lời khai của bị cáo trước đây tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét vật chứng vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 5 giờ 20 phút ngày 22/5/2022 tại đoạn đường nhựa thuộc ấp Tân Thành Tây, xã Tân Hòa, huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Trần Hoàng K có hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, với số lượng là 8.310 bao, trong đó có 6.110 bao thuốc lá điếu, hiệu Hero và 2.200 bao thuốc lá điếu, hiệu Jet bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần bắt quả tang và khám xét nơi ở của bị cáo.

Do đó, hành vi của bị cáo Trần Hoàng K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Cho nên bản Cáo trạng số 34/CT-VKS-HS ngày 09/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử; thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định của pháp luật; những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là hành vi buôn bán hàng cấm với mục đích là thu lợi vì bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, kinh doanh, buôn bán các loại hàng cấm.

Hiện nay trên địa bàn huyện Tiểu Cần, hành vi buôn bán hàng cấm tuy ít bị phát hiện xử lý nhưng có tính chất rất phức tạp. Để ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xét thấy cần thiết phải tuyên cho bị cáo mức án tù có thời hạn như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát thì mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo; nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng nhằm giáo dục, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có 02 người bác ruột Trần Văn T là liệt sĩ; Trần Văn D là thương binh; có cậu ruột được Ủy ban nhân dân huyện Cù Lao Dung tặng bằng khen và chiến sĩ thi đua; trong quá trình điều tra vợ bị cáo đã giao nộp số tiền 5.150.000 đồng do bị cáo buôn bán hàng cấm mà có. Cho nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung và về vật chứng: Xét thấy cần xử lý như Kiểm sát viên đề nghị là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xem xét, giải quyết.

Xét thấy đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hoàng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Trần Hoàng K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng K 09 (Chín) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; thời hạn tù tính kể từ ngày 22/5/2022.

Về hình phạt bổ sung:

Áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật hình sự;

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 6.110 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và 2.200 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet; 01 (một) cái giỏ nhựa đan, màu vàng đỏ xanh đã qua sử dụng; 29 (hai mươi chín) bọc nylon, loại có quai xách, màu đen, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, có số thuê bao 0909.070.790 và 0989.850.509 đã qua sử dụng của bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước. 01 (một) xe Mô tô, kiểu Dream, hiệu Honda, biển kiểm soát 53X9-9793, màu nâu, không có giấy đăng ký chủ sở hữu, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước tổng số tiền buôn bán hàng cấm mà có của bị cáo là 5.300.000 đồng (Trong đó có 5.150.000 đồng do vợ bị cáo giao nộp vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiểu Cần được mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Tiểu Cần quản lý), buộc bị cáo tiếp tục nộp bổ sung số tiền 150.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Hoàng K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để xin xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ