vanban.org

Bản án 41/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 27/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh H và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2021/HS-ST
Ngày 27/10/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Tuyến;

2. Bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2021/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Thanh H; sinh ngày 15/02/1973 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh Bình (đã chết) và bà Cao Thị Mai (đã chết); có vợ Lê Thị Ngoan và có 04 con (con lớn nhất 33 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Đức D; sinh ngày 10/7/1997 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Hải Chữ, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Quảng và bà Nguyễn Thị Hoa; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Cao Thắng L; sinh ngày 28/3/1991 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn Hai và bà Bùi Thị Nga; có vợ Lê Thị Thắm và có 01 con 05 tuổi; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Quốc H; sinh ngày 15/02/1983 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Tân Trại Thượng, xã Hiền Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Hòa (đã chết) và bà Nguyễn Thị Cái; có vợ Lê Thị Ngọc Huyền và có 03 con (con lớn nhất 13 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi).

Tiền án: Ngày 12/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HSST; ngày 01/10/2020, đã chấp hành xong bản án.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: Đào Công Q; sinh ngày 19/5/1974 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Xuân Hòa, xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Công Đáo và bà Trần Thị Hiên; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/02/2021 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: Mai Thị B; sinh ngày 02/10/1973 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố không xác định, con bà Lê Thị Diễn (đã chết); có chồng Trần Hữu Dũng và có 03 con (con lớn nhất 25 tuổi, con nhỏ nhất 16 tuổi); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

7. Họ và tên: Phan Thanh C; sinh ngày 25/8/1990 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: thợ cơ khí. trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh Hải và bà Lê Thị Ngoan; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

8. Họ và tên: Lê Văn K; sinh ngày 06/01/1989 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: thợ mộc; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Hào và bà Bùi Thị Hoài; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

9. Họ và tên: Hoàng Thanh L; sinh năm 1976 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thanh Thu (đã chết) và bà Lê Thị Diễu; có vợ Võ Thị Nhung và có 02 con (con lớn 22 tuổi, con nhỏ 16 tuổi); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 19/02/2021, đến ngày 20/02/2021 được trả tự do, ngày 28/02/2021 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

10. Họ và tên: Lý Trường K; sinh ngày 30/10/1984 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Quế và bà Lê Thị Hiền; có vợ Mai Thị Hương và có 02 con (con lớn 03 tuổi, con nhỏ 01 tuổi); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

11. Họ và tên: Võ Thị L; sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn Võ Xá, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Quang Lượng (đã chết) và bà Lê Thị Hảo; có chồng Lê Thanh Hải và có 02 con (con lớn 23 tuổi, con nhỏ 20 tuổi); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2021, đến ngày 28/02/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào dịp tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021, Phan Thanh H đã đồng ý cho các con bạc sử dụng gian nhà phụ làm địa điểm đánh bạc. Hải quy định mỗi con bạc phải nộp xâu cho mình từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 30 ngày 19/02/2021, H mở cửa gian nhà phụ và chuẩn bị chiếu, chăn, một bộ chén đĩa sứ, bài Tú lơ khơ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, có nhiều người đến gian phụ nhà Hải đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Khoảng 18 giờ 30 phút, Lê Văn K tới nhà Hải chơi. Khoảng 21 giờ, Đồng nghỉ đánh bạc, K đồng ý vào thay làm xóc cái và sử dụng số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc. Khoảng 21 giờ 30, H về nhà, sau đó đi đến chiếu bạc và nói “Cho lấy tiền xâu” thì một con bạc đưa cho Hải 600.000 đồng. Nhìn thấy con trai Phan Thanh C đánh bạc, Hải xin tiền và được Cảnh cho 1.000.000 đồng. Sau đó, Hải đi ra trước sân nhà để canh gác.

Cách thức đánh xóc đĩa như sau: Người xóc cái sử dụng một bộ chén bát bằng sứ, bỏ vào bên trong 04 quân vị được cắt ra từ quân bài Tú lơ khơ, mỗi quân vị đều có một mặt màu xanh (gọi là mặt đen), một mặt màu trắng có hình các quân bài (gọi là mặt trắng). Sau khi xóc bộ chén đĩa xong bỏ xuống chiếu bạc thì những người đặt cược sẽ tiến hành đặt tiền vào cửa "Chẵn" hoặc cửa "Lẻ", số tiền mỗi người đặt cược mỗi ván từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Đặt cược xong, người xóc cái sẽ cân đối số tiền của các cửa “Chẵn” và “Lẻ” bằng nhau, nếu số tiền chênh lệch thì người xóc cái sẽ yêu cầu đặt cược thêm tiền hoặc sẽ có người đứng ra nhận cược phần tiền chênh lệch. Sau đó, người xóc cái hoặc người đặt cược lớn sẽ tiến hành mở chén để xác định thắng thua. Nếu các con vị hiển thị 04 mặt đen hoặc 04 mặt trắng hoặc 02 mặt đen và 02 mặt trắng thì cửa “Chẵn” thắng, còn nếu các con vị hiển thị 03 mặt đen và 01 mặt trắng hoặc 03 mặt trắng và 01 mặt đen thì cửa “Lẻ” thắng. Người xóc đĩa sẽ lấy tiền bên thua chung cho bên thắng theo tỷ lệ đặt 1 ăn 1 (ví dụ đặt 100.000 đồng sẽ ăn thêm 100.000 đồng). Quá trình xóc đĩa, khi 04 quân vị xuất hiện 04 mặt đen hoặc 04 mặt trắng (gọi là thượng vị) thì người thắng lớn sẽ lấy đưa cho người xóc cái hoặc người xóc cái sẽ tự lấy giữa chiếu bạc 100.000 đồng (thưởng cho cho người xóc cái).

Các bị cáo đánh bạc đến 23 giờ 50 phút ngày 19/02/2021 thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, tạm giữ Phan Thanh H (gá bạc) và 09 đối tượng đánh bạc, gồm: Lê Văn K, Nguyễn Đức D, Phan Thanh C, Mai Thị B, Võ Thị L, Lý Trường K, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Hoàng Thanh L; thu giữ tại chiếu bạc: 01 chiếu lác, 01 chăn vải, 01 bát sứ, 01 dĩa sứ, 04 quân vị hình tròn và số tiền 20.400.000 đồng (trong đó 4.700.000 đồng thu giữ trên sòng bạc, 1.200.000 đồng thu giữ quanh khu vực chiếu bạc, 14.500.000 thu giữ trên người các bị cáo).

Ngày 21/02/2021, bị cáo Đào Công Quý đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Trị đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.000.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo khai nhận sử dụng vào mục đích đánh bạc cụ thể như sau:

- Phan Thanh C mang theo số tiền 8.000.000 đồng, thắng 1.000.000 đồng, cho bố là Phan Thanh H 1.000.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 8.000.000 đồng.

- Cao Thắng L mang theo số tiền 4.200.000 đồng, thua 4.100.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 100.000 đồng.

- Nguyễn Quốc H mang theo số tiền 3.200.000 đồng, không thua không thắng, khi bị bắt thu giữ 100.000 đồng trên chiếu bạc và 3.100.000 đồng trên người.

- Mai Thị B mang theo số tiền 2.000.000 đồng, thua 1.950.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 50.000 đồng.

- Hoàng Thanh L mang theo số tiền 1.500.000 đồng, đánh ván đầu tiên thì bị bắt, thu giữ trên chiếu bạc 1.000.000 đồng và trên người 500.000 đồng.

- Đào Công Q mang theo số tiền 1.000.000 đồng, không thua không thắng, khi đến Cơ quan điều tra đầu thú đã giao nộp 1.000.000 đồng.

- Lê Văn K mang theo số tiền 200.000 đồng, được những người đánh bạc thắng “thượng vị” cho 600.000 đồng, tổng cộng 800.000 đồng, đánh thua 600.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 200.000 đồng.

- Nguyễn Đức D mang theo số tiền 600.000 đồng, không thua không thắng, nộp tiền xâu 100.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc 100.000 đồng và 400.000 đồng trên người.

- Võ Thị L mang theo số tiền 500.000 đồng, không thua không thắng, khi bị bắt thu giữ trên người 500.000 đồng.

- Lý Trường K mang theo số tiền 300.000 đồng, thua 250.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trên người 50.000 đồng.

Như vậy, trong lần đánh bạc vào đêm 19/02/2021, tại nhà Phan Thanh H, xác định có 10 bị cáo tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới hình thức xóc đĩa, tổng số tiền các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là 21.400.000 đồng, trong đó có 600.000 đồng tiền xâu bị cáo H được hưởng lợi.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

- Thu giữ của Phan Thanh H: 01 chiếu lác màu vàng, đỏ; 01 chăn vải màu tím; 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị hình tròn được cắt ra từ các lá bài Tú lơ khơ.

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 21.400.000 đồng.

- 11 điện thoại di động của các bị cáo H, K, D, C, B, Võ Thị L, Lý Trường K, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Q, Hoàng Thanh L; 05 xe mô tô các loại của các bị cáo B, D, K, Q và xe của C do chị Nguyễn Thị Hồng Nh (sinh năm 1997, trú tại khu phố 8, thị trấn Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) cho mượn. Cơ quan điều tra đã trả lại 05 xe mô tô và 11 điện thoại di động cho các chủ sở hữu.

Cáo trạng số 40/CT-VKS-P2 ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Phan Thanh H, về tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

+ Phan Thanh H: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS, xử phạt từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng;

+ Phan Thanh C: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 30.000.000 đồng;

+ Cao Thắng L: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 25.000.000 đồng;

+ Nguyễn Quốc H: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt từ 12 đến 15 tháng tù;

+ Mai Thị B: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS, xử phạt từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ;

+ Hoàng Thanh L: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 20.000.000 đồng;

+ Đào Công Q: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS, xử phạt từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ;

+ Nguyễn Đức D: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 20.000.000 đồng;

+ Võ Thị L: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 20.000.000 đồng;

+ Lê Văn K: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 20.000.000 đồng;

+ Lý Trường K: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 BLHS, xử phạt 20.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 21.400.000 đồng;

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếu lác màu vàng, đỏ; 01 chăn vải màu tím; 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị hình tròn được cắt ra từ các lá bài Tú lơ khơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ 18 giờ đến 23 giờ 50 phút ngày 19/02/2021, tại nhà của bị cáo Phan Thanh H, các bị cáo Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa thắng, thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 21.400.000 đồng. Bị cáo Phan Thanh H là chủ nhà đồng ý cho các bị cáo trên sử dụng nhà của mình làm địa điểm đánh bạc để thu tiền xâu hưởng lợi 600.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Phan Thanh H, về tội “Gá bạc” theo điểm b, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án:

Hành vi gá bạc, đánh bạc không những làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn mà còn gây ra nhiều hệ lụy xấu cho bản thân, gia đình và xã hội. Các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực và nhận thức pháp luật, biết rõ các hành vi đánh bạc, gá bạc là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi nên vẫn thực hiện. Hành vi này được xử lý bằng pháp luật hình sự là thỏa đáng.

Trong vụ án này có nhiều bị cáo tham gia nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, không có người khởi xướng, chủ mưu cầm đầu nên chỉ mang tính chất đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không hẹn trước, nhưng biết nhà của Phan Thanh H thường tụ tập đánh bạc nên đã đến tham gia; số tiền các bị cáo mang theo để đánh bạc lần lượt như sau: Phan Thanh C mang theo 8.000.000 đồng, Cao Thắng L 4.200.000 đồng, Nguyễn Quốc H 3.200.000 đồng, Mai Thị B 2.000.000 đồng, Hoàng Thanh L 1.500.000 đồng, Đào Công Q 1.000.000 đồng, Lê Văn K 800.000 đồng (200.000 đồng mang theo và 600.000 đồng được những người đánh bạc thắng thượng vị cho), Nguyễn Đức D 600.000 đồng, Võ Thị L 500.000 đồng, Lý Trường K 300.000 đồng.

Bị cáo Phan Thanh H không đánh bạc nhưng sử dụng nhà của mình làm địa điểm đánh bạc; chuẩn bị các dụng cụ đánh bạc và thu xâu.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo Nguyễn Quốc H có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo Phan Thanh C, Lý Trường K, Lê Văn K, Mai Thị B, Võ Thị L, Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Hoàng Thanh L, Đào Công Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” và “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo Đào Công Q tự nguyện đầu thú, gia đình thuộc diện cận nghèo, có bố được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Phan Thanh H thành khẩn khai báo, có bố, mẹ là những người có công với cách mạng (bị cáo Hải có bố được tặng thưởng Huân chương, Huy chương kháng chiến hạng Nhất; bị cáo Hưng có bố được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì và mẹ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo Phan Thanh H có vai trò cao trong vụ án, đã sử dụng nhà của mình, chuẩn bị công cụ, phương tiện để cho các bị cáo khác đánh bạc nên cần xử phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự; hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo đang bị bệnh nặng phải điều trị lâu dài, do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe.

Bị cáo Nguyễn Quốc H đã bị kết án, về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội, do đó cần áp dụng hình phạt tù mới đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục.

Đối với các bị cáo Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L cần áp dụng Điều 35 BLHS để phạt tiền, trong đó áp dụng thêm Điều 54 BLHS để xử phạt các bị cáo Lê Văn K, Võ Thị L, Nguyễn Đức D, Lý Trường K, Đào Công Q dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức giáo dục và phòng ngừa chung.

Đối với bà Lê Thị Ng và anh Phan Thanh Ph (là vợ và con của bị cáo Phan Thanh H) biết bị cáo Hải cho người khác đánh bạc tại nhà của mình nhưng không đồng ý và không tham gia, hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” nên cơ quan chức năng không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.

Ngoài ra, trong vụ án còn có một số đối tượng khác tham gia đánh bạc. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp để xác minh nhưng không xác định được nên không có cơ sở để xử lý.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 21.400.000 đồng bị thu giữ là tiền đánh bạc và thu lợi bất chính nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 chiếu lác màu vàng, đỏ; 01 chăn vải màu tím; 01 chén sứ màu trắng; 01 đĩa sứ màu trắng; 04 quân vị hình tròn được cắt ra từ các lá bài Tú lơ khơ là công cụ phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Phan Thanh H, phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L, phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thanh H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/10/2021.

Giao bị cáo Phan Thanh H cho Ủy ban nhân dân xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục; gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc H 06 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/02/2021 đến ngày 28/02/2021.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự; các bị cáo Lê Văn K, Võ Thị L, Nguyễn Đức D, Lý Trường K áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự; bị cáo Đào Công Q áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo:

Phan Thanh C số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng);

Cao Thắng L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng);

Mai Thị B số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng);

Hoàng Thanh L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng);

Đào Công Q số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);

Lê Văn K số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);

Võ Thị L số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);

Nguyễn Đức D số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng);

Lý Trường K số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

* Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 21.400.000 đồng (hai mươi mốt triệu bốn trăm ngàn đồng).

Hiện số tiền trên đã được chuyển vào tài khoản tạm giữ 3949.0.1054172.00000 của Văn phòng Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Ủy nhiệm chi số 102/PC02 ngày 09/9/2021 của Phòng cảnh sát hình sự - Công an tỉnh Quảng Trị.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) chiếu lác màu vàng đỏ, kích thước 1,9m x 1,4m;

- 01 (một) chăn vải màu tím, kích thước 1,2m x 2,2m;

- 01 (một) chén sứ màu trắng;

- 01 (một) đĩa sứ màu trắng;

- 04 (bốn) quân vị được cắt ra từ lá bài tú lơ khơ có hình tròn, gồm một mặt màu trắng và một mặt màu xanh.

Hiện các vật chứng trên có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phan Thanh H, Nguyễn Đức D, Cao Thắng L, Nguyễn Quốc H, Đào Công Q, Mai Thị B, Phan Thanh C, Lê Văn K, Hoàng Thanh L, Lý Trường K, Võ Thị L, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 27/10/2021.

Cỡ chữ