- Tranh chấp gì? án hình sự — "255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga và 01 phong bì số 608A/2020/PC09 …
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2021/HS-ST Ngày 25-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. PH Duy H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi cư trú: đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông PH Duy M và bà Mạc Thị C; có vợ là Trần Thị Nh và có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 23 tháng 9 năm 2020; có mặt.
2. Đỗ Đình H1, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đình Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th; tiền án: Không, tiền sự: Ngày 15/7/2020, Tòa án nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện số 02 trong thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 19 ngày 15/7/2020; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam ngày 23 tháng 9 năm 2020; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 20/9/2020, tại nhà của PH Duy H ở số 13A/11/73 đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng, Công an quận NG, thành phố Hải Phòng bắt quả tang 05 đối tượng gồm PH Duy H, Đỗ Đình H1, Phạm Quốc H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số đường NG, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Thế Ph, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số đường Tr, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng và Lê Văn D, sinh năm 1996; nơi cư trú: xã Trường Th, huyện A, thành phố Hải Phòng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình bắt giữ, Cơ quan Công an thu giữ trên mặt bàn các vật chứng gồm:
- 01 vỏ túi nilon có kích thước khoảng 2,5 x 2,5 cm bên trong còn bám dính tinh thể màu trắng (mẫu số 01).
- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự tạo gồm 01 chai nhựa, có nắp đục 02 lỗ, một lỗ cắm tẩu thủy tinh, một lỗ cắm ống hút nhựa, trong tẩu thủy tinh còn bám dính tạp chất màu đen (mẫu số 02).
- 01 bật lửa ga đã qua sử dụng.
Ngoài ra, Cơ quan Công an thu giữ 05 chai nhựa đựng nước tiểu của Lê Văn D, Đỗ Đình H1, Phạm Quốc H, Nguyễn Thế Ph và PH Duy H (mẫu số 3, 4, 5, 6, 7) để gửi giám định.
Thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp đối với nhà ở, đồ vật của PH Duy H tại số nhà đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận NG, thành phố Hải Phòng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 608/KLGĐ-MT ngày 23/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hải Phòng kết luận:
- Tinh thể màu trắng bám dính trong túi nilon của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện xác định khối lượng tinh thể bám dính trên.
- Tạp chất màu nâu đen bám dính trong ống tẩu thủy tinh của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện xác định khối lượng tinh thể bám dính trên.
- 05 mẫu nước tiểu ghi tên Lê Văn D, Đỗ Đình H1, Phạm Quốc H, Nguyễn Thế Ph và PH Duy H gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 20/9/2020, PH Duy H đang ở nhà đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng thì có Đỗ Đình H1, Phạm Quốc H đến chơi. Tại đây, Đỗ Đình H1 lấy trong người ra 180.000 đồng đưa cho PH Duy H bảo: “Mày còn tiền không thì thêm vào, anh có 180.000 đồng đây, em đi lấy ma túy đá về anh em mình cùng chơi”. PH Duy H đồng ý và bỏ thêm 20.000 đồng rồi một mình đi lên đường tàu M gặp và mua của một người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng ma túy đá được 01 gói nilon kích thước khoảng 2,5 x 2,5 cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. Mua được ma túy, PH Duy H cất giấu vào người rồi đi về nhà. Trên đường về, PH Duy H gặp Nguyễn Thế Ph và Lê Văn D là bạn bè xã hội đang đi trên đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng nên rủ cả hai về nhà sử dụng ma túy đá. Nguyễn Thế Ph và Lê Văn D đồng ý. Khi về đến cửa nhà, PH Duy H cầm gói ma túy đưa cho Nguyễn Thế Ph và nói: “Anh cầm vào trong nhà”. Nguyễn Thế Ph đồng ý, cầm gói ma túy vào trong nhà và đưa cho Lê Văn D, còn PH Duy H đi vào nhà vệ sinh rửa chân tay. Lê Văn D cầm gói ma túy đá và lấy trong gầm bàn uống nước nhà PH Duy H 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự tạo có sẵn gồm 01 chai nhựa có nắp đục 2 lỗ, 01 lỗ cắm tẩu thủy tinh, 01 lỗ cắm ống hút bằng nhựa đặt lên bàn. Lê Văn D đổ hết gói ma túy vào ống tẩu thủy tinh rồi đưa bộ dụng cụ và 01 bật lửa ga có sẵn ở nhà PH Duy H cho Nguyễn Thế Ph. Nguyễn Thế Ph cầm bộ dụng cụ đặt lên bàn trước mặt mình rồi ngậm miệng vào ống hút nhựa, tay dùng bật lửa đốt dưới tẩu thủy tinh để ma túy đá cháy thành khói và hút khói vào cơ thể. Nguyễn Thế Ph hút vài hơi xong thì lần lượt Lê Văn D, PH Duy H, Đỗ Đình H1 và Phạm Quốc Huy tự sử dụng ma túy đá theo cách mà Nguyễn Thế Ph thực hiện trước đó. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Công an quận NG vào kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa 05 đối tượng về trụ sở lập biên bản.
Quá trình điều tra, Lê Văn D, Nguyễn Thế Ph và Phạm Quốc Huy khai nhận không tham gia bàn bạc về việc sử dụng ma túy, cũng như không góp tiền vào việc mua ma túy đá cùng Đỗ Đình H1 và PH Duy H.
Xác minh tại gia đình, cơ sở cai nghiện ma túy Gia Minh (xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng) thể hiện: Các đối tượng Lê Văn D, Phạm Quốc Huy, Nguyễn Thế Ph đều không phải đối tượng nghiện ma túy.
Lời khai nhận tội của Đỗ Đình H1 và PH Duy H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Về vật chứng: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga và 01 phong bì số 608A/2020/PC09 niêm phong 01 vỏ túi nilon và 01 tẩu thủy tinh sau khi xử lý giám định.
Tại Bản Cáo trạng số 52/CT-VKSNQ ngày 04/3/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo PH Duy H với mức án từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Đỗ Đình H1 với mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga và 01 phong bì số 608A/2020/PC09 niêm phong 01 vỏ túi nilon và 01 tẩu thủy tinh sau khi xử lý giám định.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận NG, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận NG, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận NG, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến; kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan, đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/9/2020, tại số nhà 13A/11/73 đường L, phường M, quận NG, thành phố Hải Phòng, PH Duy H đã sử dụng địa điểm là nhà của mình, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và bật lửa; góp tiền mua ma túy Methamphetamine cùng với Đỗ Đình H1 để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Lê Văn D, Nguyễn Thế Ph và Phạm Quốc Huy. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 20/9/2020), các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm b (đối với 02 ngưởi trở lên) khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Xét về nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo Đỗ Đình H1 có 01 tiền sự: Ngày 15/7/2020, Tòa án nhân dân quận NG, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện số 02 trong thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 19 ngày 15/7/2020 chưa được xóa. Bị cáo PH Duy H không có tiền án, tiền sự.
- Xét vai trò của các bị cáo trong đồng phạm tội:
Các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 giữ vai trò đồng phạm giản đơn cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tuy nhiên bị cáo PH Duy H tham gia tích cực hơn đã sử dụng địa điểm là nhà của mình, cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá và bật lửa, cùng góp tiền và trực tiếp đi mua ma túy. Đối với Đỗ Đình H1 tham gia giữ vai trò tích cực, số tiền góp mua lớn hơn để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của Lê Văn D, Nguyễn Thế Ph và Phạm Quốc Huy. Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo trong đồng phạm cần áp dụng các điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo PH Duy H với mức cao hơn bị cáo Đỗ Đình H1 là phù hợp.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bi cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 có thái độ khai báo thành khẩn, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt các bị cáo tiếp tục cách ly khỏi xã hội một thời gian, mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ biên bản hỏi cung ngày 03/11/2020, ngày 03/12/2020 và tại phiên tòa cho thấy các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga và 01 phong bì số 608A/2020/PC09 niêm phong 01 vỏ túi nilon và 01 tẩu thủy tinh sau khi xử lý giám định.
- Về án phí:
Các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này:
Nguyễn Thế Ph có hành vi cầm gói ma túy đá đưa cho Lê Văn D; Lê Văn D có hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng có sẵn ở nhà PH Duy H đặt lên bàn và đổ ma túy đá vào tẩu thủy tinh để cả nhóm sử dụng. Tuy nhiên, Lê Văn D và Nguyễn Thế Ph chỉ là người bị rủ rê, lôi kéo sử dụng ma túy nên hành vi của Nguyễn Thế Ph và Lê Văn D chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Việc Cơ quan Công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn D, Nguyễn Thế Ph và Phạm Quốc Huy về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho PH Duy H ở đường tàu M, không xác minh được lai lịch địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: PH Duy H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt Đỗ Đình H1 08 (tám) năm tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 tính từ ngày 23 tháng 9 năm 2020.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 chai nhựa có nắp đục 02 lỗ, 01 ống hút nhựa; 01 bật lửa ga và 01 phong bì số 608A/2020/PC09 niêm phong 01 vỏ túi nilon và 01 tẩu thủy tinh sau khi xử lý giám định (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận NG, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo PH Duy H và Đỗ Đình H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận NG;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận NG;
- Chi cục THADS quận NG;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận NG;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Văn Mười THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận NG;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận NG;
- Chi cục THADS quận NG;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận NG;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Lê Văn Mười
- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận NG;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- Cơ quan điều tra Công an quận NG;
- Chi cục THADS quận NG;
- Cơ quan Thi hành án hình sự quận NG;
- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
Lê Văn Mười
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
- Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Mười
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND quận NG; - TAND thành phố Hải Phòng; - Cơ quan điều tra Công an quận NG; - Chi cục THADS quận NG; - Cơ quan Thi hành án hình sự quận NG; - PV 27 Công an thành phố Hải Phòng; - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |