- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Duy H và Ngô Văn P - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy H phạm tội “Gá bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HSST Ngày: 29/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Mạc Thị Lan
2. Bà Trần Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 29/5/2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2020/HSST, ngày 01/4/2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXXST-HS ngày 05/5/2020 đối với các bị cáo:
1. Bùi Duy H, sinh năm 1967 tại C, Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Trần Thị N; có vợ là Trần Thị D; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Ngô Văn P, sinh năm 1986 tại C, Hải Dương; nơi cư trú: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn L và bà Doãn Thị B; có vợ là Nguyễn Thị T; có 03 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 71/2019/HS-ST ngày 08/8/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị cáo tại ngoại; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1971;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
2. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1972;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
3. Anh Trần Xuân T, sinh năm 2001;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
4. Anh Bùi Văn H, sinh năm 1984;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
5. Anh Bùi Bá Q, sinh năm 1985;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
6. Anh Bùi Bá D, sinh năm 1982;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
7. Anh Trần C, sinh năm 1983;
Trú tại: Khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
8. Anh Trần Danh K, sinh năm 1993;
Trú tại: Khu dân cư C, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương; có mặt.
9. Anh Trần Văn T, sinh năm 1988;
Trú tại: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
10. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1996;
Trú tại: Khu dân cư T, phường Đ, thành phố C, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2019, Bùi Duy H mượn 02 bàn bi a của vợ chồng anh Bùi Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu H ở khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương (anh Đ là em trai H) với mục đích để kinh doanh. Sau đó, H mua 02 bộ bóng bi a và gậy để phục vụ việc kinh doanh. Tối ngày 07/12/2019, Trần Xuân T, Bùi Văn H, Bùi Bá Q, Bùi Bá D, Trần C, Ngô Văn P (là đối tượng có tiền án về tội Đánh bạc), Trần Danh K, Trần Văn T, Trần Văn Đ đến quán Bùi Duy H ở khu dân cư G, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương để xem bóng đá. Trong quá trình xem bóng đá, các đối tượng trên rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh bi a, sát phạt nhau bằng tiền trái phép. Cụ thể là:
Tại bàn bi a thứ nhất: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 07/12/2019, Trần Văn Đ, Trần Danh K và Trần Văn T cùng rủ nhau đánh bi a, sát phạt nhau bằng tiền. Các đối tượng thống nhất cách chơi: Sử dụng gậy bi a và 10 bóng bi a gồm 01 bóng trắng được gọi là “bi cái” và 09 bóng còn lại được đánh số từ 1 đến 9. Dùng gậy chọc vào bi cái để bi cái đập vào các bi còn lại nhằm đưa các bi còn lại vào các lỗ có sẵn trên bàn lần lượt theo thứ tự từ 1 đến 9. Mức độ sát phạt là: đối với lỗ 10 (hai lỗ giữa bàn); ai đánh các bi vào lỗ 10 thì người đánh lượt trước phải trả 20.000đ/lá bài cho người đánh; ai đánh bi số 9 vào sẽ là người thắng và sẽ được đánh trước ván sau và những người chơi khác mỗi người phải trả cho người thắng số tiền 40.000đ. Nếu người đánh trước một ván phá bi có bi vào lỗ 10 thì mỗi người chơi phải trả cho người phá bi số tiền 20.000đ, người phá bi phải để số tiền 20.000đ vào lỗ của bàn bi a để sau khi chơi xong sẽ thanh toán tiền bàn. Đến khoảng 20 giờ thì có Trần Xuân T và khoảng 22 giờ có Bùi Văn H đến, vào tham gia đánh bạc cùng T, Đ, K. Trước khi tham gia đánh bạc, Trần Văn Đ có 2.650.000đ, Trần Danh K có 870.000đ, Trần Văn T có 300.000đ, Trần Xuân T có 680.000đ, Bùi Văn H có 50.000đ sử dụng vào việc đánh bạc.
Tại bàn bi a thứ hai: Khoảng hơn 20 giờ ngày 07/12/2019, Trần C cùng Bùi Bá Q rủ nhau đánh bi a vui với nhau. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày có Ngô Văn P và Bùi Bá D đi ra nên C, Q, P và D cùng rủ nhau đánh bạc, sát phạt bằng tiền dưới hình thức đánh bi a. Các đối tượng thống nhất cách chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá có sẵn ở quán và quy ước các lá bài từ “A” đến “K” tương ứng với các bóng bi a từ số 01 đến số 13, bi số 14, 15 và bi cái không quy ước tương ứng với các lá bài. Mỗi người chơi được chia 10 lá bài. Căn cứ vào các quân bài, người chơi sử dụng gậy gỗ đánh bi cái màu trắng vào các bi có số tương ứng với các lá bài để cho các bi rơi xuống lỗ, người nào hết quân bài trên tay trước là người C thắng. Với mỗi lá bài còn lại đếm số lá bài còn trên tay để trả tiền cho người thắng. Những người còn lại đếm số lá bài còn trên tay để trả tiền cho người thắng. Với mỗi lá bài còn trên tay, người thua phải trả cho người thắng 10.000đ. Người chơi lượt sau cho được một bi xuống lỗ 10 thì người đá lượt trước phạt trả cho người đó 20.000đ/01 lá bài, nếu ai không đá được bi nào xuống lỗ thì gọi là “cháy” và phải trả cho người thắng số tiền 100.000đ. Trước khi tham gia đánh bạc, Trần C có 1.920.000đ, Bùi Bá Q có 760.000đ, Ngô Văn P có 500.000đ, Bùi Bá D có 800.000đ sử dụng vào việc đánh bạc.
Mặc dù, Bùi Duy H biết các đối tượng trên thuê 02 bàn bi a để đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh bi a nhưng Bùi Duy H vẫn đồng ý cho thuê với giá 15.000đ/01 giờ chơi.
Cả hai bàn bi a chơi đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 07/12/2019 thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt giữ. Lực lượng Công an đã thu giữ: 02 bàn bi a. Tại bàn bi a thứ nhất thu giữ: 05 gậy đánh bi a làm bằng gỗ,10 bóng bi a có thứ tự từ 01 đến 09 và 01 bóng trắng cùng số tiền 200.000đ tại lỗ giữa bàn. Trần Văn Đ giao nộp số tiền 2.770.000đ; Trần Danh K giao nộp số tiền 930.000đ, Trần Xuân T giao nộp số tiền 150.000đ, Trần Văn T giao nộp 250.000đ, Bùi Văn H giao nộp số tiền 250.000đ. Tại bàn bi a thứ hai thu giữ: 04 gậy bi a làm bằng gỗ, 16 bóng bi a có thứ tự từ 01 đến 15 và 01 bóng trắng, cùng bộ tú lơ khơ 52 quân. Ngô Văn P giao nộp số tiền 480.000đ, Bùi Bá Q giao nộp số tiền 760.000đ, Trần C giao nộp số tiền 1.940.000đ và Bùi Bá D giao nộp số tiền 800.000đ. Số tiền trên các đối tượng để trên người và sử dụng vào việc đánh bạc.
Bản Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 26/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Duy H về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Ngô Văn P về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Bùi Duy H và Ngô Văn P thành khẩn khai nhận như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh thực hành quyền công tố, trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy H phạm tội “Gá bạc”; Xử phạt: Bị cáo Bùi Duy H 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn P phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn P 06 đến 09 tháng tù. Buộc bị cáo Ngô Văn P phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của bản án số 71/2019/HS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (được trừ 03 ngày tạm giữ). Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 đến 45 tháng tù (được trừ 03 ngày tạm giữ), thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Bùi Duy H từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ sung quỹ Nhà nước; Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Ngô Văn P từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ sung quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 09 gậy đánh bi a làm bằng gỗ, 26 bóng bi a, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân; Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền 8.530.000đ sử dụng vào việc đánh bạc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo Bùi Duy H và Ngô Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của các bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 19 giờ 30 phút đến 23 giờ 30 phút ngày 07/12/2019, tại nhà của Bùi Duy H ở khu dân cư G, phường T, thành phố C, H có hành vi sử dụng nhà của mình và cho thuê 02 bàn bi a để đánh bạc: Bàn bi a thứ nhất có Trần Văn T, Trần Văn P, Trần Danh K, Trần Xuân T và Bùi Văn H sử dụng 01 bàn bi a; 05 gậy đánh bi a, 10 bóng bi a và số tiền 4.550.000đ để đánh bạc trái phép. Bàn bi a thứ hai có Ngô Văn P (là đối tượng có tiền án về tội “đánh bạc”), Trần C, Bùi Bá D và Bùi Bá Q sử dụng: 01 bàn bi a, 04 gậy đánh bi a, 16 bóng bi a và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và số tiền 3.980.000đ để đánh bạc trái phép, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh bi a thì bị lực lượng Công an thành phố Chí Linh phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 8.530.000đ của các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc, 02 bàn bi a, 09 gậy đánh bi a, 26 bóng bi a cùng 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.
Hành vi của các bị cáo Ngô Văn P và Bùi Duy H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Trong đó, bị cáo Ngô Văn P đã bị kết án về tội “đánh bạc”, chưa được xóa án tích, nay lại cố ý tiếp tục tham gia đánh bạc trái phép cùng với Trần C, Bùi Bá D và Bùi Bá Q với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 3.980.000đ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Bị cáo Bùi Duy H cố ý sử dụng nhà ở của mình để cho 02 chiếu bạc trong cùng một lúc với tổng số tiền dùng đánh bạc là 8.530.000đ nhằm thu tiền, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” quy định tại điểm b khoảng 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo Bùi Duy H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Văn T là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng C hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này luôn tôn trọng quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách pháp luật, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm, chưa bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính; có nơi cư trú cụ thể rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, do vậy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Ngô Văn P không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Ngô Văn P đang được hưởng án treo theo Bản án số 71/2019/HSST ngày 08/8/2019 lại phạm tội mới trong thời gian thử thách, do vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng trừng trị, răn đe và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Sau khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, cần buộc bị cáo Ngô Văn P phải chấp hành hình phạt của bản án số 71/2019/HSST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh và tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định tại Điều 55, Điều 56 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Để đảm bảo tính răn đe, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Bùi Duy H theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự và bị cáo Ngô Văn P theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- 09 gậy đánh bi a làm bằng gỗ, 26 bóng bi a, 01 bộ tú lơ khơ 52 quân là công cụ, phương tiện phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.
- Số tiền 8.530.000đ là tiền sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với các đối tượng Trần Văn T, Trần Văn Đ, Trần Danh K, Trần Xuân T, Bùi Văn H, Trần C, Bùi Bá D và Bùi Bá Q chưa có tiền án, tiền sự; sử dụng số tiền chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an thành phố Chí Linh đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Đối với anh Bùi Văn Đ và chị Nguyễn Thị Thu H là người cho Bùi Duy H mượn 02 bàn bi a nhưng không biết việc H cho các đối tượng thuê để đánh bạc, cơ quan điều tra đã trả lại 02 bàn bi a cho anh Đ, chị Hiền và không xử lý với anh Đ và chị Hiền là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Duy H phạm tội “Gá bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Duy H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án 29/5/2020.
Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55, Điều 56, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn P phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn P 06 (Sáu) tháng tù.
Buộc bị cáo Ngô Văn P phải chấp hành hình phạt 36 tháng tù của bản án số 71/2019/HS-ST ngày 08/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương (được trừ 03 ngày tạm giữ).
Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 42 (bốn mươi hai) tháng tù (được trừ 03 ngày tạm giữ), thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung:
- Áp dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Bùi Duy H 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Phạt bị cáo Ngô Văn P 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 bộ tú lơ khơ 52 quân;
- 10 bóng bi a (gồm 09 quả có số thứ tự từ 01 đến 09 và 01 bi màu trắng không có số);
- 16 bóng bi a (gồm 15 quả có số thứ tự từ 01 đến 15 và 01 bi màu trắng không có số);
- 09 gậy chọc bi a bằng gỗ màu đen vàng dài 150cm;
* Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền 8.530.000đ sử dụng vào việc đánh bạc gồm:
- 200.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 10/VC;
- 1.940.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 08/VC;
- 800.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 09/VC;
- 2.770.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 02/VC;
- 250.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 06/VC;
- 930.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 04/VC;
- 760.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 03/VC;
- 250.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 07/VC;
- 150.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 05/VC;
- 480.000đ đựng trong phong bì niêm phong số 01/VC;
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 31/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo Bùi Duy H và Ngô Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Duy H và bị cáo Ngô Văn P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết./.
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - VKSND thành phố Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Chí Linh; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thành phố Chí Linh; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kim Giang |