- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ông Văn N và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H, sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 41/2020/HS-PT Ngày 17-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Trọng Danh
Các Thẩm phán:
Ông Trần Minh Long
Bà Dương Thị Hồng Minh
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Kiều Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17/02/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 202/2019/TLPT-HS ngày 24/12/2019 đối với các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
1/ Ông Văn N, sinh ngày 14 tháng 9 năm 1998 tại Đà Nẵng; Nơi cư trú: Đường D, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Ông Văn Chiếu E (s) và bà Lê Thị Hồng T (s); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 04/3/2019. Có mặt tại phiên tòa.
2/ Phạm Khắc K, sinh ngày 27 tháng 8 năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Tổ 43, phường A, quận S, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Khắc V (s) và bà Lê Thị H1 (s); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 04/3/2019. Có mặt tại phiên tòa.
3/ Hồng Quốc H, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1998 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Đường M, phường K, quận S, TP Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Hồng Quốc S và bà Nguyễn Thị Kim P (s); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt ngày 04/3/2019. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Hồ Thị Minh P1 là chủ cơ sở kinh doanh quán G tại địa chỉ Siêu thị B đường V, phường R, quận T, TP Đà Nẵng, kí hợp đồng lao động thuê Nguyễn Trung D làm quản lý, điều hành mọi hoạt động của quán. Ngày 31/01/2018, hộ kinh doanh của bà P1 có đơn đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế (xin nghỉ kinh doanh) gửi đến Chi cục thuế quận Thanh Khê; Đến ngày 06/02/2018, Chi cục thuế quận Thanh Khê ban hành thông báo số 874/TB-CCT về việc chấm dứt hiệu lực mã số thuế đối với hộ kinh doanh nhưng bà P1 vẫn tiếp tục kinh doanh và không khai báo với cơ quan thuế. Từ tháng 04/2018, nhận thấy doanh thu của quán G thấp, nhằm tăng doanh thu, Nguyễn Trung D không thông qua bà P1, tự ý hướng dẫn và tạo điều kiện cho em vợ là Ông Văn N đến quán G để hoạt động tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán điểm, quy đổi từ điểm thành tiền cho những người chơi game tại nơi mình quản lý. Theo quy định của quán G, giá bán điểm game được quy định cứ 100.000 đồng đổi được 1000 điểm, tuy nhiên Nguyễn Trung D thống nhất bán điểm cho N với giá rẻ hơn với tỷ lệ 100.000 đồng được 900 điểm, nhằm mục đích để cho N bán lại điểm cho người chơi với giá thấp hơn giá quán đưa ra nhằm thu hút người chơi mua điểm của N (N bán lại cho người chơi theo tỷ lệ cứ 100.000 đồng đổi được 1000 điểm). Với cách thức trên, từ tháng 5/2018, N sử dụng thẻ từ tích điểm do cơ sở game cung cấp để mua điểm tại quầy thu ngân với tỷ lệ 100.000 đồng được 1100 điểm, sau đó, N bán lại cho người chơi theo tỷ lệ 100.000 đồng được 1000 điểm để hưởng chênh lệch với tỷ lệ là 10% (riêng tháng 4/2019, Nguyễn Trung D thống nhất bán điểm cho N với tỷ lệ 100.000 đồng được 1050 điểm, N hưởng chênh lệch 05%). Đồng thời, Nguyễn Trung D cho phép quá trình chơi game, người chơi có thể quy đổi điểm thưởng lại cho N để lấy tiền mặt. Cụ thể, người chơi có thể quy đổi điểm thưởng của mình trong máy game thành tiền mặt với N theo tỷ lệ quy đổi cứ 1100 điểm thì đổi được 100.000 đồng; với tỷ lệ quy đổi này, N thu lợi bất chính 10%. Quá trình thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, N thuê thêm Huỳnh Văn D1, Phạm Khắc K và Hồng Quốc H làm công cho mình và thỏa thuận trả công cho mỗi người ban đầu là 150.000 đồng/01 ngày, sau đó nâng lên 300.000 đồng/01 ngày; hàng ngày, N sẽ giao cho Huỳnh Văn D1, K và H mỗi người 01 thẻ từ và một số tiền nhất định để mua điểm tại quầy thu ngân với tỷ lệ 100.000 đồng được 1100 điểm, sau đó bán lại cho người chơi theo tỷ lệ 100.000 đồng được 1000 điểm để hưởng chênh lệch 10%. Khi người chơi có nhu cầu bán lại điểm để lấy tiền mặt thì Huỳnh Văn D1, Phạm Khắc K và Hồng Quốc H mua lại điểm của người chơi theo tỷ lệ quy đổi cứ 1100 điểm thì được 100.000 đồng để thu lợi bất chính chênh lệch từ việc quy đổi điểm thành tiền cho người chơi với tỷ lệ là 10%.
Vào ngày 04/3/2019, khi N cùng đồng bọn đang tổ chức đánh bạc cho những người đánh bạc bằng hình thức chơi game bắn cá và game quay thú thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang. Tại thời điểm bắt quả tang, có 05 máy game bắn cá, 01 máy game hồ lô (máy quay thú) đang hoạt động và có 18 người đang đánh bạc bằng hình thức chơi máy game bắn cá và máy game quay thú được ăn thua bằng tiền gồm:
1/ Cao Thị G khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game quay thú và đã thua hết.
2/ Trần Ngô Trường G1 khai nhận sử dụng số tiền 400.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đang chơi thì bị bắt quả tang.
3/ Trịnh Thị Ngọc A khai nhận sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game quay thú và đã thua hết.
4/ Trần Hoài N1 khai nhận sử dụng sô tiền 200.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi N1 thắng và quy đổi được số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó, N1 tiếp tục sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã chơi thua hết.
5/ Bùi Ngọc T1 khai nhận sử dụng số tiền 250.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
6/ Lê Viết T2 khai nhận sử dụng số tiền 150.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
7/ Nguyễn T3 khai nhận sử dụng số tiền 800.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi T3 thắng và quy đổi được số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, T3 tiếp tục sử dụng số tiền 500.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã chơi thua hết.
8/ Trần Văn M khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game quay thú và đã thua hết.
9/ Nguyễn Thị Ngọc H2 khai nhận sử dụng số tiền 100.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game quay thú và đã thua hết.
10/ Hoàng Đức T4 khai nhận sử dụng số tiền 1.000.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
11/ Nguyễn Lương Hoàng M1 khai nhận sử dụng số tiền 100.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đang chơi thì bị bắt quả tang.
12/ Nguyễn Thị Thu T5 khai nhận sử dụng số tiền 500.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi T5 thắng và quy đổi được số tiền 1.000.000 đồng.
13/ Nguyễn Thị M2 khai nhận sử dụng số tiền 300.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
14/ Cần Thị Bích P2 khai nhận sử dụng số tiền 100.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi P2 thắng và quy đổi được số tiền 100.000 đồng.
15/ Nguyễn Thị H3 khai nhận sử dụng số tiền 100.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đang chơi thì bị bắt quả tang.
16/ Nguyễn Ngọc H4 khai nhận sử dụng số tiền 300.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
17/ Dương Ngọc Q khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi Q thắng và quy đổi được số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, Q tiếp tục sử dụng số tiền 300.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá, quá trình chơi Q thắng và quy đổi được số tiền 600.000 đồng và đang chơi thì bị bắt quả tang.
18/ Trương Thị Nguyên T6 khai nhận sử dụng số tiền 200.000 đồng để mua điểm chơi đánh bạc bằng hình thức game bắn cá và đã thua hết.
Trong ngày 04/3/2019, Ông Văn N cùng đồng bọn đã mua 132.000 điểm tương đương số tiền 12.000.000 đồng để nạp điểm vào các thẻ từ để hoạt động tổ chức đánh bạc. Sau đó, N cùng đồng bọn bán điểm và mua điểm game nhiều lượt người chơi, trong đó có 18 người chơi nêu trên. Từ quá trình mua, bán và quy đổi điểm game thành tiền, N và đồng bọn thu lợi từ chênh lệch giá mua, bán và quy đổi điểm game thành tiền. Tại thời điểm bắt quả tang thu giữ của Phạm Khắc K số tiền bán điểm game là 24.900.000 đồng (hai mươi bốn triệu chín trăm ngàn đồng) và 50USD (tiền đô la Mỹ); thu giữ của Hồng Quốc H số tiền bán điểm game là 4.720.000 đồng (bốn triệu bảy trăm hai mươi ngàn đồng). Tổng số tiền N cùng đồng bọn thu được từ việc bán điểm game cho những người chơi vào ngày 04/3/2019 là 24.900.000 đồng + 1.146.500 đồng + 4.720.000 đồng = 30.766.500 đồng (ba mươi triệu, bảy trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Do không xác định được số điểm game còn lại của N cùng đồng bọn khi bị bắt, nên số tiền dùng để tổ chức đánh bạc của N cùng đồng bọn trong ngày 04/3/2019 được xác định trên cơ sở số tiền thu được từ việc bán điểm game cho những người chơi là 30.766.500 đồng. Số tiền thu lợi bất chính của N cùng đồng bọn trong ngày 04/3/2019 là: 30.766.500 – 12.000.000 đồng = 18.766.500 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trung D khai nhận: Nhằm mục đích thu hút được nhiều khách đến chơi game để tăng doanh thu cho quán, Nguyễn Trung D đã đồng ý và tạo điều kiện cho N đến hoạt động tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán điểm, quy đổi từ điểm thành tiền cho những người chơi game tại nơi mình quản lý. Theo quy định của quán game, giá bán điểm game được quy định cứ 100.000 đồng đổi được 1000 điểm, tuy nhiên D thống nhất bán điểm cho N với giá rẻ hơn để cho N bán lại điểm cho người chơi với giá 100.000 đồng đổi được 900 điểm thấp hơn giá cơ sở đưa ra nhằm thu hút người chơi mua điểm của N. Quá trình chơi game, người chơi có thể quy đổi điểm thưởng lại cho N để lấy tiền mặt theo tỷ lệ quy đổi như đã nêu trên. Bản thân Nguyễn Trung D chỉ được nhận lương theo hợp đồng lao động kí kết với chủ cơ sở kinh doanh quán G là bà Hồ Thị Minh P1, không thỏa thuận việc hưởng lợi nhuận từ hoạt động tổ chức đánh bạc của N cùng đồng bọn.
Qua điều tra xác định số tiền mà N cùng đồng bọn đã mua điểm từ quán game để tổ chức đánh bạc trong khoảng thời gian từ ngày 14/4/2018 đến ngày 03/3/2019 (theo sổ điểm thu giữ tại quầy thu ngân) là 4.370.400.000 đồng; số tiền thu lợi từ sự chênh lệch bán điểm game cho người chơi trong thời gian trên là 435.555.000 đồng (Bốn trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi lăm ngàn đồng). Như vậy xác định số tiền N dùng để tổ chức đánh bạc tại quán G trong thời gian nêu trên là 4.370.400.000 đồng + 435.555.000 đồng = 4.805.955.000 đồng (Bốn tỷ tám trăm lẻ năm triệu chín trăm năm mươi lăm ngàn đồng) có bảng kê số 1 kèm theo.
Đối với Huỳnh Văn D1 bắt đầu tham gia giúp sức cho Ông Văn N hoạt động tổ chức đánh bạc từ khoảng tháng 7/2018 (không rõ cụ thể ngày nào) đến thời điểm bắt quả tang. Căn cứ nội dung sổ điểm thu giữ tại quầy thu ngân, xác định từ ngày 01/8/2018 đến ngày 03/3/2019 xác định số tiền mua điểm từ quán G để hoạt động tổ chức đánh bạc là 3.751.200.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi mốt triệu hai trăm ngàn đồng), số tiền thu lợi từ sự chênh lệch bán điểm game cho người chơi trong thời gian trên là 375.120.000 đồng (Ba trăm bảy mươi lăm triệu một trăm hai mươi ngàn đồng). Như vậy, số tiền Huỳnh Văn D1 hoạt động tổ chức đánh bạc với vai trò giúp sức cho Ông Văn N trong thời gian trên là 3.751.200.000 đồng + 375.120.000 đồng = 4.126.320.000 đồng (Bốn tỷ một trăm hai mươi sáu triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) có bảng kê số 2 kèm theo.
Đối với Phạm Khắc K và Hồng Quốc H bắt đầu tham gia giúp sức cho Ông Văn N hoạt động tổ chức đánh bạc từ khoảng tháng 10/2018 (không rõ cụ thể ngày nào) đến thời điểm bắt quả tang. Căn cứ nội dung sổ điểm thu giữ tại quầy thu ngân xác định từ ngày 01/11/2018 đến ngày 03/3/2019 xác định số tiền mua điểm từ quán G để hoạt động tổ chức đánh bạc là 2.533.000.000 đồng (Hai tỷ năm trăm ba mươi ba triệu đồng), số tiền thu lợi từ sự chênh lệch bán điểm game cho người chơi trong thời gian trên là 253.300.000 đồng (Hai trăm năm mươi ba triệu ba trăm ngàn đồng).Như vậy, số tiền Phạm Khắc K, Hồng Quốc H hoạt động tổ chức đánh bạc với vai trò giúp sức cho Ông Văn N trong thời gian trên là 2.533.000.000 đồng + 253.300.000 đồng = 2.786.300.000 đồng (Hai tỷ bảy trăm tám mươi sáu triệu ba trăm ngàn đồng)có bảng kê số 3 kèm theo.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:
- Số tiền tổ chức đánh bạc của Ông Văn N trong thời gian từ ngày 14/4/2018 đến ngày 04/3/2019 là: 4.805.955.000 đồng + 30.766.500 đồng = 4.836.721.500 đồng (Bốn tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm đồng). Trong đó, tiền thu lợi bất chính là 435.555.000 đồng + 18.766.500 đồng = 454.321.500 đồng (Bốn trăm năm mươi bốn triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm đồng).
- Số tiền tổ chức đánh bạc của Huỳnh Văn D1 trong thời gian từ ngày 01/8/2018 đến ngày 04/3/2019 là: 4.126.320.000 đồng + 30.766.500 đồng = 4.157.086.500 đồng (Bốn tỷ một trăm năm mươi bảy triệu không trăm tám mươi sáu ngàn năm trăm đồng). Huỳnh Văn D1 làm việc ở quán G từ khoảng tháng 7/2018 (không rõ ngày) đến ngày 04/3/2019. Từ tháng 7/2018 đến tháng 9/2018 được N trả tiền công 150.000 đồng/01 ca, mỗi tháng Huỳnh Văn D1 làm khoảng 20 ngày tương đương 3.000.000 đồng/01 tháng. Từ tháng 10/2018 đến tháng 02/2019 được N trả tiền công 300.000 đồng/01 ca, mỗi tháng D1 làm khoảng 20 ngày tương đương 6.000.000 đồng/01 tháng. Tổng cộng, Huỳnh Văn D1 được N trả công 39.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động tổ chức đánh bạc của Huỳnh Văn D1 là 39.000.000 đồng.
- Số tiền tổ chức đánh bạc của Phạm Khắc K và Hồng Quốc H từ ngày 01/11/2018 đến ngày 04/3/2019 là: 2.786.300.000 đồng + 30.766.500 đồng = 2.817.066.500 đồng (Hai tỷ tám trăm mười bảy triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm đồng). Từ tháng 10/2018 đến tháng 02/2019 được N trả tiền công 300.000 đồng/01 ca, trừ những ngày nghỉ cuối tháng K và H được N trả công khoảng 8.000.000 đồng. Tổng cộng, K và H được N trả công 40.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền thu lợi bất chính từ hoạt động tổ chức đánh bạc của K và H là 40.000.000 đồng.
Quá trình điều tra không xác định được những con bạc đã quy đổi điểm thành tiền cho N cùng đồng bọn nên không đủ cơ sở xác định số tiền thu lợi bất chính của N cùng đồng bọn từ việc quy đổi điểm game thành tiền cho người chơi tại quán G.
Tại Bản án sơ thẩm số 124/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Ông Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019. Phạt bổ sung bị cáo Ông Văn N số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Khắc K 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hồng Quốc H 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt các bị cáo Nguyễn Trung D, Huỳnh Văn D1, phần xử lý vật chứng, về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo bản án.
Ngày 24/11/2019, bị cáo Ông Văn N có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ngày 30/11/2019, bị cáo Hồng Quốc H có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 03/12/2019, bị cáo Phạm Khắc K có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục: Đơn kháng cáo của các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Về nội dung: Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo thì thấy rằng Bản án hình sự sơ thẩm số 124/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Ông Văn N với mức án 05 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo N, giữ y phần quyết định hình phạt đối với bị cáo N. Đối với các bị cáo Phạm Khắc K, Hồng Quốc H chỉ là người làm thuê cho N, được N trả lương chứ không được ăn chia lợi nhuận thu nhập bất chính, các bị cáo K, H có vai trò giúp sức, do vậy mức án 02 năm tù đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của hai bị cáo K, H, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H khai nhận: Nguyễn Trung D được bà Hồ Thị Minh P1 chủ cơ sở kinh doanh quán G tại địa chỉ Siêu thị B đường V, phường R, quận T, TP Đà Nẵng, kí hợp đồng lao động thuê làm quản lý, điều hành mọi hoạt động của quán. Từ tháng 04/2018 Nguyễn Trung D không thông qua bà P1, tự ý hướng dẫn và tạo điều kiện cho em vợ là Ông Văn N đến quán G để hoạt động tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán điểm, quy đổi từ điểm thành tiền cho những người chơi game tại nơi mình quản lý để hưởng tiền chênh lệch. Sau đó, Ông Văn N đã thuê Huỳnh Văn D1, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H tham gia giúp N hoạt động tổ chức đánh bạc. Từ khoảng ngày 14/4/2018 đến ngày 04/3/2019 các bị cáo đã mua điểm từ quán game để tổ chức đánh bạc là 4.836.721.500 đồng (Bốn tỷ tám trăm ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm đồng); trong đó, tiền thu lợi bất chính là 435.555.000 đồng + 18.766.500 đồng = 454.321.500 đồng (Bốn trăm năm mươi tư triệu ba trăm hai mươi mốt ngàn năm trăm đồng). Vào ngày 04/3/2019, khi N cùng đồng bọn đang tổ chức đánh bạc cho những người đánh bạc bằng hình thức chơi game bắn cá và máy game quay thú được ăn thua bằng tiền thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng bắt quả tang.
. Xét kháng cáo của các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H, thì thấy: Trong vụ án này, Ông Văn N là người trực tiếp điều hành mọi hoạt động tổ chức đánh bạc tại quán G, N đã thuê D1, K, H tham gia giúp N hoạt động tổ chức đánh bạc, thu lợi bất chính lớn (454.321.500 đồng), hoạt động trong thời gian dài và lấy nguồn thu từ hoạt động phạm tội làm nguồn sống chính, do đó mức án của N phải cao hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Phạm Khắc K, Hồng Quốc H là người giúp sức cho N trong thời gian từ 01/11/2018 đến 04/3/2019 với số tiền 2.817.066.500 đồng bằng việc bán điểm cho người chơi và mua điểm khi người chơi bán lại từ đó giúp cho N thu lợi từ việc mua đi bán lại điểm cho người chơi.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm gia tăng tệ nạn xã hội tại địa phường và gây ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích mong muốn thu lợi bất chính cho bản thân nên đã cố tình phạm tội. Do đó đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo Ông Văn N 05 năm 06 tháng tù, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H mỗi bị cáo 02 năm tù là có phần nghiêm khắc. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H, sửa Bản án sơ thẩm.
2.Căn cứ:
- Điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Ông Văn N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019.
- Điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Phạm Khắc K 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019.
- Điểm b khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Hồng Quốc H 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn từ tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 04/3/2019.
3. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo Ông Văn N, Phạm Khắc K, Hồng Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Phòng HSNV – CA Tp Đà Nẵng; - CQ THAHS – CA quận Thanh Khê; - VKSND quận Thanh Khê; - CQCSĐT Công an quận Thanh Khê; - Toà án nhân dân quận Thanh Khê; - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - Trại giam Hòa Sơn; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Trọng Danh |