vanban.org

Bản án 41/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Thân Trọng Tiến 09 ( chín) tháng tù.

Về vật chứng: Đã được giải quyết tại bản án số 54/2017/HSST ngày Về án phí: Áp dụng điều 99 BLTTHS; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị Quyết Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Xuân Phong và đồng phạm phạm tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Thân Trọng Tiến 09 ( chín) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN ĐỊNH
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2019/HS-ST
Ngày 19 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐI ̣NH, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Cung

2. Bà Hoàng Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh , Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 9 năm 2019 tại Tru ̣ sở , Tòa án nhân dân huyện Yên Đi ̣nh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai , vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2019/TLST - HS ngày 30 tháng 8 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: HVV, sinh ngày: 19/6/1974 tại xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam ; Bố đẻ: Hà Văn V (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; Gia đình có 03 anh, em, bị cáo là con đầu; Có vợ là Lưu Thị Thế, sinh năm 1974; Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: NĐM, sinh ngày:19/5/1975 tại xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Nguyễn Văn C, sinh năm 1932; Mẹ đẻ: Trịnh Thị N (đã chết); Gia đình có 04 chị, em, bị cáo là con thứ 3; Có vợ là Lưu Thị Liên, sinh năm 1982, đã ly hôn; Có 01 con sinh năm 2001; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: LĐC, sinh ngày: 02/02/1971 tại xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn Ql, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Lê Đình Đ (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1926; Gia đình có 06 chị, em, bị cáo là con út; Có vợ là Trần Thị M, sinh năm 1973; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2000; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: NQP, sinh ngày: 01/01/1970 tại xã TP, huyện Triệu P, tỉnh Quảng Trị. Nơi cư trú: Khu 2, thị trấn Ql, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Trình độ văn hóa : 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Nguyễn Quang K (đã chết); Mẹ đẻ: Đặng Thị K (đã chết); Gia đình có 09 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 6; Có vợ là Nguyễn Thị C, sinh năm 1973; Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Họ và tên: TVL, sinh ngày: 12/8/1963 tại xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Trần Văn C (đã chết); Mẹ đẻ: Hà Thị D, sinh năm 1941; Gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con út; Có vợ là Lê Thị Hồng, sinh năm 1961; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1994; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

6. Họ và tên: TXP, sinh ngày: 12/5/1975 tại xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Viê ̣t Nam; Bố đẻ: Trịnh Xuân T (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Ứ (đã chết); Gia đình có 05 anh, em, bị cáo là con đầu; Có vợ là TTM, sinh năm 1979; Có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/12/2018, đến ngày 29/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo LĐC:

Bà Nguyễn Thị Ngà - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa.

- Những người làm chứng:

1. Ông LCV, sinh năm: 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

2. Chị TTM, sinh năm: 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

3. Anh LHP, sinh năm: 1980 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

4. Anh LVQ, sinh năm: 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

5. Anh LTH, sinh năm: 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Khu 1, thị trấn Ql, huyện Yên Định, Thanh Hóa.

6. Anh TNH, sinh năm: 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C L, xã T, huyện Nam Trực, Nam Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/12/2018, nhà TXP ở thôn TP, xã ĐT, huyện Yên Định, tổ chức bốc mộ cho người thân trong gia đình. HVV, NĐM, LPT, người cùng thôn với TXP và LĐC, người ở khu 2, thị trấn Ql, huyện Yên Định có mặt. Khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi uống rượu ăn cơm xong thì rủ nhau xuống gian bếp nhà TXP đánh bài ăn tiền. Tại đây đã có sẵn một chiếc chiếu cói và bộ bài tú lơ khơ 52 cây, cả bọn thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng”. Cụ thể hình thức đánh “Liêng” như sau: Trong ván chơi mỗi người chơi được chia ba cây bài để tính điểm ăn thua. Cộng ba cây số điểm cao nhất là 9. Nếu 3 cây hàng dọc như 789 hoặc JQK gọi là “Liêng”. Nếu ba cây cùng hàng như 777 gọi là “Sáp” là cao nhất. Tiền đặt cửa là 10.000 đồng, người chơi có quyền tố thêm, nhưng tối đa không quá 100.000 đồng. Cả bọn chơi được một lúc thì có thêm NQP, trú tại khu 2, thị trấn Ql, TVL, trú tại thôn TP, xã ĐT đến tham gia đánh bạc cùng. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc những người trên đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Định phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Những người bị bắt tại chiếu bạc gồm: TXP, LĐC, NĐM, HVV, NQP. Riêng TVL, LPTbỏ chạy trốn. Đến ngày 26/12/2018, Lạc và Tích đã đến Công an huyện Yên Định đầu thú. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.660.000 đồng, 52 lá bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu cói.

Cùng thời điểm bắt quả tang nêu trên thì tổ công tác Công an huyện Yên Định còn phát hiện và lập biên bản về hành vi đánh bạc trái phép tại phòng khách nhà P. Gồm các đối tượng: TTM (vợ của TXP), LHP, LVQ người cùng thôn, LTH, trú tại khu 1, thị trấn Ql, huyện Yên Định, TNH, trú tại thôn Cao Lộc, xã Tân Thịnh, Huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.830.000 đồng, 01 chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ.

Tại cơ quan điều tra, HVV, NĐM, LPT, LĐC, NQP, TVL đã thành khẩn khai nhận hành vi đánh bạc trái phép của bản thân và đồng phạm. TXP cũng thừa nhận đã cho phép các đối tượng trên đánh bạc trái phép tại nơi ở của mình.

Về vật chứng của vụ án: Tiền Việt Nam đồng: 6.660.000 đồng; 01 chiếu cói, 01 bộ bài tú lơ khơ. Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Đối với TTM, LHP, LVQ, LTH, TNH đã thực hiện hành vi đánh bạc. Tuy nhiên, số tiền đánh bạc 1.830.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm theo quy định. Vì vậy Công an huyện Yên Định đã xử lý hành chính đối với các đối tượng trên.

Quá trình giải quyết vụ án, bị can LPTxuất trình các tài liệu về việc điều trị bệnh tâm thần tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tình trạng tâm thần đối với bị can LPT. Đã hết thời hạn điều tra bổ sung nhưng việc giám định chưa có kết quả. Do đó, Cơ quan điều tra đã quyết định tách vụ án hình sự đối với LPTđể xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSYĐ ngày 28/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh truy tố các bị can HVV, NĐM, TVL, TXP về tội Đánh bạc theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo LĐC, NQP về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo HVV, NĐM, LĐC, NQP, TVL, TXP khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyê ̣n Yên Đi ̣nh luận tội giữ nguyên q uyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp du ̣ng quy định của pháp luật để xử phạt các bị cáo như sau:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử phạt HVV, LĐC từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử phạt NĐM, từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử phạt NQP từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 09 ngày quy đổi từ 03 ngày tạm giữ. Khấu trừ 10% thu nhập hành tháng trong thời gian chấp hành án.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử phạt TVL từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ , được trừ 09 ngày quy đổi từ 03 ngày tạm giữ. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự.

̀

Xử phạt TXP từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Phạt bổ sung các bị cáo mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Riêng đối với bị cáo TXP đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật TTHS. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền đánh bạc 6.660.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa Nguyễn Thị Ngà: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt bị cáo LĐC 12 tháng cải tạo không giam giữ.

̀

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Nhận định về hành vi, quyết định tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Định, hành vi của Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Nhận định về hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định truy tố:

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận vào khoảng 20 giờ, ngày 25/12/2018, HVV, NĐM, LPT, LĐC, NQP, TVL đã cùng nhau đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh “Liêng” tại nhà TXP ở thôn TP, xã ĐT. TXP thừa nhận tuy không tham gia đánh bạc, nhưng đã cho phép các bị cáo đánh bạc trái phép tại nơi ở của mình. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi đánh bạc thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền đánh bạc bị thu giữ là 6.660.000 đồng. Trong đó số tiền đánh bạc của bị cáo Minh là 1.500.000 đồng, Chinh 500.000 đồng, Việt 600.000 đồng, Quang P 1.000.000 đồng, Lạc 1.500.000 đồng. Số tiền còn lại là của bị can Tích.

Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở chứng minh các bị cáo HVV, NĐM, LĐC, NQP, TVL phạm tội đánh bạc. Hành vi của các bị cáo phạm vào tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 BLHS. TXP tuy không tham gia đánh bạc, nhưng đã cho phép các bị cáo đánh bạc trái phép tại nơi ở của mình. Do vậy TXP phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc với vai trò đồng phạm giúp sức. Như vậy, tội danh đánh bạc đã chính thức được thành lập đối với các bị cáo.

VKSND huyện Yên Định truy tố các bị cáo HVV, NĐM, TVL, TXP theo khoản 1 Điều 321 BLHS là đúng pháp luật. Tuy nhiên, truy tố thêm khoản 3 Điều 321 BLHS là không chính xác. Bởi lẽ: Khoản 3 Điều 321 BLHS là hình phạt bổ sung. Cáo trạng chỉ truy tố hành vi phạm tội của bị can, chứ không được truy tố hình phạt bổ sung. Đây là điều khoản tùy nghi để Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, nội dung vụ án, căn cứ luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xem xét có thể áp dụng, hoặc không áp dụng hình phạt bổ sung trong những trường hợp cụ thể. Do vậy, việc truy tố hình phạt bổ sung là không đúng về mặt lý luận và thực tiễn xét xử.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án và quan hệ pháp luật xâm phạm:

Tính chất của vụ án ít nghiêm trọng. Hành vi đánh bạc là sự sát phạt nhau về tài chính của mỗi cá nhân. Hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và đời sống gia đình các bị cáo, xâm phạm nếp sống văn minh, làm mất trật tự trị an. Hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội, là nguồn gốc nảy sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để trừng trị, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá về vai trò của các bị cáo:

Đây là vụ án hình sự có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó các bị cáo HVV, NĐM, LĐC tham gia đánh bạc từ đầu nên có vai trò thứ nhất. Các bị cáo NQP, TVL tham gia đánh bạc sau, có thời gian đánh bạc ít hơn nên có vai trò thứ hai. Bị cáo TXP, mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng P đã đồng ý cho các bị cáo đánh bạc tại nơi ở của mình nên P là đồng phạm giúp sức, giữ vai trò thứ ba trong vụ án.

[5] Nhận định các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng các bị cáo TVL, TXP và NĐM có thân nhân là người có công với cách mạng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Sau khi phạm tội TVL ra đầu thú, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết và vị trí vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt HĐXX xét thấy: Các bị cáo trong vụ án không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không áp dụng hình phạt nghiêm khắc mà cho các bị cáo được hưởng án cải tạo tại địa phương là phù hợp. Đối với các bị cáo HVV, NĐM, LĐC, NQP áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo. Bị cáo TVL và TXP có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn, vị trí vai trò thấp hơn nên áp dụng hình phạt tiền là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, bản thân và gia đình có tài sản thu nhập nên áp dụng hình phạt bổ sung đối với HVV, NĐM, NQP, LĐC mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Các bị cáo TVL và TXP áp dụng hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về vật chứng, án phí:

Về vật chứng: Số tiền đánh bạc 6.660.000 đồng là công cụ phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; 01 chiếc chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ là công cụ phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321 BLHS, tuyên bố các bị cáo: HVV, NĐM, LĐC, NQP, TVL, TXP phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự (Đối với tất cả các bị cáo) Điều 38; Khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự (Đối với bị cáo V, M, C, Quang P). Điều 35 (Đối với Xuân P và Lạc) khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với TXP, NĐM và TVL.

Xử phạt: Bị cáo HVV 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo NĐM 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo LĐC 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo NQP 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo TVL 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: Bị cáo TXP 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Giao các bị cáo HVV, NĐM cho Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Giao các bị cáo LĐC, NQP cho Ủy ban nhân dân thị trấn Ql, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã ĐT và thị trấn Ql trong việc giám sát giáo dục người đó.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Phạt bổ sung các bị cáo HVV, NĐM, NQP và LĐC mỗi bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS 2015. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 6.660.000 đồng tiền đánh bạc (Theo biên lai thu tiền số PT409 ngày 17/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệnYên Định). Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu cói và 01 bộ bài tú lơ khơ (Theo phiếu nhập kho số NK 34/2019 ngày 17/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyệnYên Định).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo TXP, HVV, NĐM, LĐC, NQP, TVL mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, 333 Bộ luật TTHS. Tuyên quyền kháng cáo bản án cho các bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, 7a, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Các bị cáo;

- Người bào chữa;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

Phạm Thị Cung

Hoàng Thị Thu

Phạm Hữu Thắng

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Các bị cáo;

- Người bào chữa;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

Phạm Thị Cung

Hoàng Thị Thu

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Viết Nguyên

Hoàng Thị Thu

Phạm Hữu Thắng

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Thanh Hoá;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Yên Định;

- Công an huyện Yên Định;

- Các bị cáo;

- Người bào chữa;

- Chi cục THADS Yên Định;

- Lưu hồ sơ.

Phạm Hữu Thắng TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN YÊN ĐỊNH

Độc lập -Tự do - Hạnh phúc TỈNH THANH HOÁ

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ

Vào hồi 09 h 30 phút ngày 21/8/2019.

Tại phòng nghị án, TAND huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Thắng

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thu,

2. Ông Phạm Viết Nguyên

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2019/TLST - HS ngày 15 tháng 7 năm 2019.

Họ và tên: Nguyễn Kim Dũng, sinh ngày 05 tháng 7 năm 1987 tại xã Yên Hùng, huyện Yên Định , tỉnh Thanh Hóa . Nơi cư trú : Thôn Sơn Cường , xã Yên Hùng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa;

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hỡnh sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đó được xem xột tại phiờn tũa, kết quả

tranh tụng tại phiờn tũa, cỏc quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không?

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

Không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

2. Tính hợp pháp của những chứng cứ tài liệu do cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập, do Luật sư, bị cáo, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp.

HĐXX thảo luận: Quá trình điều tra, truy tố, chứng cứ tài liệu của điều tra viên, kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp là hợp pháp, thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

3. Căn cứ kết tội bị cáo.

HĐXX thảo luận: Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Kim Dũng hoàn toàn thừa nhận: Vào khoảng 02 giờ ngày 06/02/2019, Dũng thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh Trịnh Viết Kiên 01 chiếc điện thoại di động Iphone 7 và số tiền 1.200.000 đồng của cháu Trịnh Thị Vân Anh (con gái anh Kiên). Sau đó, Dũng tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của của anh Lê Đình Tùng gồm 01 điện thoại di động Iphone 5s và số tiền 4.430.000 đồng. Tổng giá trị tài sản trộm cắp của hai lần bị cáo trộm cắp là 15.530.000 đồng.

Như vậy, đủ căn cứ kết tội bị cáo về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 BLHS.

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%. Bị cáo phạm tội

4. Hình phạt, trách nhiệm dân sự: HĐXX thảo luận:

Xử pha ̣t Nguyễn Kim Dũng 09 ( chín ) tháng tù. Được trừ 23 ngày tạm giữ, tạm giam Nguyễn Kim Dũng phải chấp hành 08 tháng 07 ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết 3/3 = 100% nội dung trên.

5. Bị cáo có thuộc trường hợp miễn TNHS, miễn hình phạt hay không?

HĐXX thống nhất biểu quyết 3/3 = 100%.

Bị cáo không thuộc trường hợp miễn TNHS, miễn hình phạt.

6. Về điều luật áp dụng:

HĐXX thống nhất áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Điều 136, Khoản 1 điều 331, 333 Bộ luật TTHS. Điểm a khoản 1 điều 23, Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Khoản 1 điều I Mục A của Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị Quyết.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

7. Về các vấn đề khác:

HĐXX thảo luận và thống nhất biểu quyết những vấn đề sau:

- Án phí: Buộc bị cáo Dũng phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: HĐXX thống nhất:

Tuyên bố quyền kháng cáo bản án cho bị cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại vắng mặt, thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

8. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra truy tố xét xử.

Quá trình điều tra, truy tố, hành vi tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100%.

9. Kiến nghị phòng ngừa khắc phục vi phạm: Không

HĐXX biểu quyết 3/3 = 100% tất cả các vấn đề trên, ra bản án và tuyên án

Nghị án kết thúc hồi 11h cùng ngày.

Biên bản lập xong đọc lại cho các thành viên Hội đồng xét xử nghe công nhận là biên bản nghi đúng ý kiến đã thảo luận và thống nhất ký tên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÕA Phạm Viết Nguyên

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Phạm Hữu Thắng

Vào hồi 22 giờ 00 phút, ngày 12/12/2018 tại gia đình Ngô Xuân Tính, ở thôn 1, xã trường Giang, huyện Nông Cống, Tổ công tác thuộc Cơ quan CSĐT Công an huyện Nông Cống phát hiện, bắt quả tang Ngô Xuân Hoa, Lê Thế Sáu, Trịnh Văn Tiểu, Nguyễn Thị Lanh, Lê Đình Thế đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh 03 cây cộng điểm; Thu giữ tại chiếu bạc: 6.500.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 cây; 01 chiếc chiếu cói và 100.000đ trong người của Ngô Xuân Tính.

Trong vụ án này Ngô Xuân Hoa giữ vai trò là người khởi xướng việc đánh bạc, quy định hình thức, mức tiền đánh bạc, đồng thời trực tiếp tham gia đánh bạc nên Hoa giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Lê Thế Sáu, Trịnh Văn Tiểu, Nguyễn Thị Lanh, Lê Đình Thế là những người trực tiếp tham gia đánh bạc, Ngô Xuân Tính tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc, nhưng giữ vai trò giúp sức: đi mua bài, thuốc lá cho các đối tượng chơi và cho các đối tượng mượn địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để đánh bạc nên Tính phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm và cùng với Sáu, Tiểu, Lanh, Thế có vai trò ngang nhau - thứ hai trong vụ án;

LÝ LỊCH CÁC BỊ CAN

1. Họ và tên:Ngô Xuân Hoa.

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 5/7/1963. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 2, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Văn hóa: 7/10

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Ngô Xuân Dần

(đã chết)

Mẹ: Trịnh Thị Khì

( đã chết)

Gia đình có 9 anh em, bị can là con thứ 7 trong gia đình.

Vợ: Nguyễn Thị Thao

sinh năm 1964

Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: không

Ngô xuân Hoa có giấy chứng nhận thương binh hạng A, thương tật hạng 2/4 61%.

Nhân thân: bị can từ nhỏ sống với bố mẹ, học hết lớp 7; năm 1987 lấy vợ và sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Ngô Xuân Tính.

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 19/3/1968. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 1, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, T.Thanh Hóa

Văn hóa: 7/10

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Ngô Xuân Kiều

(đã chết)

Mẹ: Nguyễn Thị Nhợi Sinh năm: 1931

Gia đình có 7 anh em, bị can là con thứ 5 trong gia đình.

Vợ: Đậu Thị Hiếu sinh năm 1966

Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1994.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Học hết lớp 7; Năm 1988 lập gia đình và sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

3. Họ và tên: Trịnh Văn Tiểu

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 10/8/1958. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 2, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, T.Thanh Hóa

Văn hóa: 7/10

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Trịnh Văn Ngó

(đã chết)

Mẹ: Nguyễn Thị Nhì

( đã chết).

Gia đình có 7 anh em, bị can là con thứ 6 trong gia đình.

Vợ: Phạm Thị Thu sinh năm 1962

Con: có 02 con, lớn sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1985.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: học hết lớp 7, năm 1982 lấy vợ sinh sống tại địa phương đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

4. Họ và tên: Lê Thế Sáu .

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 10/7/1966. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 2, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, T.Thanh Hóa

Văn hóa: không

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Lê Thế Thước

(đã chết)

Mẹ: Nguyễn Thị Sạy

103 tuổi

Gia đình có 7 anh em, bị can là con thứ 6 trong gia đình.

Vợ: Ngô Thị Lý

sinh năm 1966

Con: có 03 con, lớn sinh năm 1989, con thứ hai sinh năm 1991, con út sinh năm 1997.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: còn nhỏ sống với bố mẹ, năm 1988 lập gia đình và sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

5. Họ và tên:Nguyễn Thị Lanh.

Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 01/2/1956. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 2, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, T.Thanh Hóa

Văn hóa: 7/10

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Nguyễn Đại cát

(đã chết)

Mẹ: Nguyễn Thị Thạo

( đã chết)

Gia đình có 7 anh em, bị can là con thứ 3 trong gia đình.

Chồng: Nguyễn Văn Phượng sinh năm 1955

Con: có 04 con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1989.

Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân: Học hết lớp 7; Năm 1977 lập gia đình và sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

6. Họ và tên: Lê Đình Thế.

Giới tính: Nam

Sinh ngày: 01/03/1971. Tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa

Dân tộc: Kinh

Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn 1, xã Trường Giang, huyện Nông Cống, T.Thanh Hóa

Văn hóa: 5/10

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Bố: Lê Đình Cải

(đã chết)

Mẹ: Trần Thị Ngoan

( đã chết)

Gia đình có 4 anh em, bị can là con út trong gia đình.

Vợ: Nguyễn Thị Tuyến

sinh năm 1972

Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997.

Tiền án: ngày 15/12/2016 bị TAND huyện Nông Cống xử phạt 7.000.000 đồng( bảy triệu đồng) về tội “ Đánh Bạc”. Ngày 14/12/2018 chấp hành xong án.

Tiền sự: không

Nhân thân: Học hết lớp 5; Năm 1990 lập gia đình và sinh sống tại địa phương cho đến nay.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/12/2018 đến ngày 21/12/2018 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú.

Hành vi nêu trên của Ngô Xuân Hoa, Lê thế Sáu, Trịnh Văn Tiểu, Nguyễn Thị Lanh, Lê Đình Thế và Ngô Xuân Tính đã phạm vào tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS;

Cỡ chữ