vanban.org

Bản án 41/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Yên Bái Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái:

Áp dông khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15-5-2018. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái:
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH YÊN BÁI
______________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2018/HS-PT
Ngày 24-10-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Đoàn;

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thu Lan;

Bà Nguyễn Thị Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Huế - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 85/2018/TLPT-HS ngày 21 tháng 9 năm 2018, đối với bị cáo Hoàng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Văn T (tên gọi khác: không, giới tính: Nam), sinh ngày 15 tháng 01 năm 1980 tại huyện YB, tỉnh Yên Bái; trú tại thôn TS, xã MS, huyện YB, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1933, trú tại thôn TS, xã MS, huyện YB, tỉnh Yên Bái; con bà Nguyễn Thị K (đã chết); chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Tạm giữ ngày 15-5-2018, tạm giam ngày 17-5-2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 31-7-2017, Hoàng Văn T thấy cửa sau nhà chị Trần Thúy N và anh Lương Văn A không đóng nên Hoàng Văn T đi vào, mở ngăn kéo bàn phòng khách lấy trộm một chiếc ví giả da màu vàng, bên trong ví có 320.000 đ (ba trăm, hai mươi nghìn đồng) và hai tập thẻ điện thoại của mạng Vinaphone và Viettel gồm nhiều mệnh giá khác nhau trị giá 5.300.000 đ (năm triệu, ba trăm nghìn đồng).

Hoàng Văn T vứt chiếc ví giả da xuống hồ TB, còn tiền và thẻ điện thoại, Hoàng Văn T mang về nhà cất, giấu. Sáng ngày 01-8-2017, Hoàng Văn T lấy hai chiếc thẻ cào Viettel, mỗi chiếc có mệnh giá 100.000 đ (một trăm nghìn đồng) nạp vào điện thoại của mình. Do lo sợ bị phát hiện nên Hoàng Văn T đã đốt hết số thẻ cào trộm cắp được và bỏ trốn khỏi địa phương. Hoàng Văn T gọi điện cho chị gái là Hoàng Thị C nhờ bồi thường cho gia đình chị Trần Thúy N số tiền 5.620.000 đ (năm triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Ngày 15-5-2018, Hoàng Văn T ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi.

Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái đã quyết định:

I. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

II. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15-5-2018.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy định của pháp luật.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018, bị cáo Hoàng Văn T kháng cáo với lý do mức hình phạt 09 tháng tù là cao và đề nghị giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.

Về hình phạt: Áp dông kho¶n 1 ĐiÒu 138; các điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15-5-2018.

Bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xác định, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 31-7-2017, tại thôn TM, xã MS, huyện YB, tỉnh Yên Bái: Hoàng Văn T lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc ví giả da, 320.000đ (ba trăm, hai mươi nghìn đồng), hai tập thẻ cào mạng Vinaphone và Viettel của gia đình chị Trần Thúy N, tổng giá trị tài sản là 5.620.000 đ (năm triệu, sáu trăm hai mươi nghìn đồng).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Toà án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (bị cáo nhờ chị gái bồi thường thiệt hại); phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo; đã tự nguyện đầu thú được quy định tại ®iÓm b, h, p kho¶n 1 và khoản 2 §iÒu 46 của Bộ luËt H×nh sù năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo Hoàng Văn T là người có đủ sức khoẻ và năng lực hành vi, nhưng do thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên đã thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không xuất trình được thêm chứng cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T về xin giảm nhẹ hình phạt, nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ cần được chấp nhận.

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 28/2018/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện YB, tỉnh Yên Bái:

Áp dông khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, phạt bị cáo Hoàng Văn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15-5-2018.

2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ