vanban.org

Bản án 407/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 11/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 407/2017/HSST

Ngày: 11/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thu Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Hễ

2. Bà Nguyễn Thụy Trúc Mai

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đinh Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và tuyên án ngày 11/12/2017 vụ án hình sự thụ lý số 630/2017/HSST ngày 13/11/2017 đối với bị cáo:

Bùi Đức T; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: nam; nơi thường trú: 122/9 Phan Văn H, phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: giáo viên dạy bơi lội; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Bùi Văn M và bà Đào Thị Ngọc A; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người bị hại: Ông Atsushi S, sinh năm: 1972; Quốc tịnh: Nhật; nơi lưu trú: P16J, số 127 P, Phường Y, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NHẬN THẤY

Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 25/3/2017, sau khi dạy bơi xong, Bùi Đức T (huấn luyện viên bơi lội tại tòa nhà S tại số 127 P, Phường Y, Quận D) đi vào phòng thay đồ tại khu vực hồ bơi ở tầng trệt của tòa nhà S để thay đồ đi về. Lúc này, ông Atsushi S đi xuống phòng thay đồ ở khu vực hồ bơi để thay đồ đi bơi. Sau khi thay đồ, ông Atsushi S để một chiếc điện thoại di đồng hiệu Iphone 6 Plus màu vàng có bao da màu xanh lá cây vào hộc tủ đựng đồ cá nhân số 7, T nhìn thấy và nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại trên để sử dụng. Sau khi ông Atsushi S ra khỏi phòng thay đồ thì T đi đến tủ đựng đồ số 7, dùng tay phải kéo mạnh làm bung cánh cửa tủ rồi lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, rời khỏi phòng thay đồ rồi lấy xe chạy về nhà. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Atsushi S đi vào phòng thay đồ thì phát hiện bị mất điện thoại di động nên đến công an Phường Y, Quận D trình báo.

Do Bùi Đức T không mở được khóa mật mã của chiếc điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng vừa trộm cắp được nên T mang điện thoại trên đến cửa hàng di động 44 Mobile gặp chủ tiệm là Nguyễn Quang H yêu cầu mở khóa mật mã nhưng không mở được ngay nên H đề nghị T để điện thoại lại để cài đặt phần mềm mới thì T đồng ý.

Khoảng 00 giờ 30 ngày 26/3/2017, Bùi Đức T đến Công an Phường Y, Quận D đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản. Sau đó, T đi đến cửa hàng 44 Mobile để lấy điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng (đã được cài đặt lại chương trình) giao nộp cho cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 26/4/2017 thuộc Ủy ban nhân dân Quận D kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus, màu vàng trị giá 11.500.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 427/CT-VKS-P2 ngày 06/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Đức T thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể như sau: Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 25/3/2017, sau khi dạy bơi xong, Bùi Đức T đi vào phòng thay đồ tại khu vực hồ bơi ở tầng trệt của tòa nhà S để thay đồ đi về. Lúc này, ông Atsushi S đi xuống phòng thay đồ ở khu vực hồ bơi để thay đồ đi bơi. T nhìn thấy ông Atsushi S để một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus vào hộc tủ đựng đồ cá nhân, và nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại trên để sử dụng. T dùng tay phải kéo mạnh làm bung cánh cửa tủ rồi lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, rời khỏi phòng thay đồ rồi lấy xe chạy về nhà.

Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Đức T về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p, o khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Đức T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

.

Bị cáo Bùi Đức T không tranh luận gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Đức T đã khai nhận toàn bộ những hành vi sai trái do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trên.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can, vật chứng thu giữ, bản kết luận giám định trị giá tài sản… nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 25/3/2017, sau khi dạy bơi xong, Bùi Đức T đi vào phòng thay đồ tại khu vực hồ bơi ở tầng trệt của tòa nhà S để thay đồ đi về. Lúc này, ông Atsushi S đi xuống phòng thay đồ ở khu vực hồ bơi để thay đồ đi bơi. T nhìn thấy ông Atsushi S để điện thoại di đồng hiệu Iphone 6 Plus vào hộc tủ đựng đồ cá nhân số 7, và nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại trên để sử dụng. Bị cáo T dùng tay phải kéo mạnh làm bung cánh cửa tủ rồi lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần bên phải, rời khỏi phòng thay đồ rồi lấy xe chạy về nhà.

Bị cáo đã lén lút lợi dụng sự sơ hở của người bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus trị giá 11.500.000 đồng. Do đó Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố để xét xử bị cáo về tội danh “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang lo sợ, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển văn hóa du lịch, làm giảm niềm tin của người nước ngoài đối với Việt Nam nên cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng thì mới có tác dụng giáo dục riêng, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự thú; có thái độ khai báo thành khẩn và đã tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại thuộc trường hợp phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Với các tình tiết trên, cần áp dụng điểm g, h, o, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: ông Atsushi S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g, h, o, p khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 60; khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường X, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

(Đã giải thích chế định án treo).

Cỡ chữ