- Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HSST Ngày: 05/8/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Khải
Bà Trần Thị Thanh Miên
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Ngọc Phú – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Phƣơng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2021/QĐXXST-HS ngày 02/6/20121 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 tại Huế; HKTT: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn H – Đã chết; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1941; Có chồng là Lê K, sinh năm 1965 và có 03 người con lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị H, sinh năm 1965 (Có mặt)
Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, Bình Phước
Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964 (Vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã D, huyện C, Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị N mở quán nước giải khát tại nhà thuộc thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước.
Khoảng 08 giờ ngày 25/3/2021, một người đàn ông tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) đến uống nước tại quán của N và hỏi N có nhu cầu mua thuốc lá điếu để bán lại cho khách với giá là 15.000 đồng/01 bao thuốc lá hiệu Hero và 18.000 đồng/01 bao thuốc lá hiệu Jet thì N đồng ý mua thì L đi về. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, có một người phụ nữ khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) đến quán của N uống nước và hỏi N có thuốc lá điếu bán không thì N hỏi “Cô mua số lượng bao nhiêu, giá bán là 15.300 đồng/01 bao thuốc hiệu Hero và 18.300 đồng/01 bao thuốc lá hiệu Jet”, người này nói “Bao nhiêu em cũng mua hết”. N hỏi địa điểm giao hàng, người này nói cứ chở đến chùa “Pháp Tịnh” thuộc xã Phú Riềng người này ra lấy hàng, rồi người này ra về. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, Long điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở theo 600 bao thuốc lá, trong đó có 300 bao thuốc lá hiệu Hero và 300 bao thuốc lá hiệu Jet đến giao cho N. L hỏi N mua thêm không thì N đồng ý. Long điều khiển xe đi khoảng 15 phút sau chở đến bán cho N 1.000 bao thuốc lá hiệu Hero và 119 bao thuốc lá hiệu Jet. N thanh toán cho người này hết số tiền 27.042.000 đồng rồi người này bỏ đi. Sau đó, N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93H1-152.46 chở theo 300 bao thuốc lá hiệu Hero và 300 bao thuốc lá hiệu Jet đến chùa Pháp Tịnh để bán lại kiếm tiền chênh lệch. Trên đường đi N bị Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Riềng phối hợp với Công an xã Phú Riềng phát hiện, bắt giữ đồng thời thu giữ toàn bộ số tang vật. Sau đó, N giao nộp 1.000 bao thuốc lá hiệu Hero và 119 bao thuốc lá hiệu Jet.
Tại công văn số 575/SCT-TM ngày 30/3/2021 của Sở công thương tỉnh Bình Phước xác định: số thuốc lá trên không có tem nhập khẩu, không in hình cảnh báo sức khỏe và chữ viết tiếng Việt. Toàn bộ số thuốc lá nêu trên không đủ điều kiện nhập khẩu và lưu thông tại thị trường Việt Nam.
Tại bản Cáo trạng số: 34/2021/Ctr – VKS ngày 11/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
Áp dụng khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng và phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000 đồng
Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như trên và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi liên quan, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định tài sản và các tài liệu chứng cứ khác được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi nên ngày 25/3/2021, tại quán nước của mình tại thôn A, xã B, Nguyễn Thị N có hành vi mua trái phép 1719 bao thuốc lá điếu, trong đó 1.300 bao thuốc lá hiệu Hero và 419 bao thuốc lá hiệu Jet từ người đàn ông tên Long (không rõ nhân thân, lai lịch) nhằm bán lại kiếm tiền chênh lệch. Khi N đang mang 600 bao thuốc lá (300 bao thuốc Hero và 300 bao thuốc Jet) đi đến khu vực chùa Pháp Tịnh thuộc xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng để bán cho người phụ nữ (không rõ nhân thân lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự quản lý của Nhà nước về buôn bán những mặt hàng bị cấm, là nguyên nhân gây ra những nguy hiểm đến sức khỏe của người dân và ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an. Bị cáo nhận thức được tác hại do hành vi phạm tội của mình gây ra nhưng vì lợi ích của bản thân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
Với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng để giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận biết pháp luật còn hạn chế theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị N có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng. Vì vậy, chỉ cần tuyên hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý tạo điều kiện cho bị cáo tự giáo dục bản thân trở thành công dân tốt cho xã hội là phù hợp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh và hình phạt là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với đối tượng tên Long bán thuốc lá điếu cho N và người phụ nữ mua thuốc lá của N, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch do đó Cơ quan Công an huyện Phú Riềng tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau nên HĐXX không xem xét
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
Đối với xe môtô hiệu Honda Wave biển kiểm soát 93H1-152.46, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của Lê Thị H, sinh năm 1965 cho N mượn, khi N sử dụng làm phương tiện phạm tội bà Hường không biết nên ngày 27/4/2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Riềng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Hường là đúng quy định nên HĐXX không xem xét
Đối với 1719 bao thuốc lá điếu, trong đó 1.300 bao thuốc lá hiệu Hero và 419 bao thuốc lá hiệu Jet là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã Phú Riềng, huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Áp dụng khoản 4 Điều 190 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) thu vào Ngân sách nhà nước.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối 1719 bao thuốc lá điếu, trong đó 1.300 bao thuốc lá hiệu Hero và 419 bao thuốc lá hiệu Jet
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Phú Riềng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Riềng)
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phướ;c - VKSND huyện Phú Riềng; - Chi cục THADS huyện Phú Riềng; - CA huyện Phú Riềng; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Bình |