- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Duy Khanh và Bùi Quang H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Nguyễn Duy K, Bùi Quang H phạm tội ‘‘Trộm cắp tài sản’’
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 401/2017/HSST Ngày: 21/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần thị Minh
2. Ông Nguyễn Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 447/2017/HSST ngày 01 tháng 12 năm 2017 theo quyết đinh đưa ra xét xử số 442/QĐXX-ST ngày 06/12/2017 đối với các bị cáo:
1. NGUYỄN DUY K, sinh năm 1986 tại Hµ Nội; Nơi ĐKHKTT: Số 6, ngõ 76, phường L, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Họ tên bố: Không xác định, họ tên mẹ: Nguyễn Kim D; Tiền án: Ngày 23/09/2008, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 3.240.000 đồng); Ngày 13/04/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 3.000.000 đồng); Ngày 24/06/2013, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (trị giá tài sản 4.500.000 đồng), ra trại ngày 08/07/2015; Tiền sự: Năm 2012, Công an phường Thành Công xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Bắt quả tang ngày 03/09/2017, bị tạm giữ 04/09/2017, tạm giam ngày 13/09/2017. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
2. BÙI QUANG H, sinh năm 1977 tại Hµ Nội; Nơi cư trú: Số 165, A14, tập thể T, phường T, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Bùi Hữu Đ, con bà Nguyễn Thị T; Tiền án: Ngày 08/04/2010, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 50 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Tiền sự: Năm 2002, đi cơ sở giáo dục 24 tháng; Năm 2005, đi cai nghiện bắt buộc, về địa phương năm 2008; B¾t quả tang ngày 03/09/2017, bị tạm giữ 04/09/2017, tạm giam ngày 13/09/2017. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Phạm Thị L - sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Đăng ký HKTT: Xã N, huyện N, tỉnh Nam Định Chỗ ở: 163 T, phường H, quận Đ, Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 03/09/2017, Nguyễn Duy K điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS 29U1-18319 đến rủ Bùi Quang H đi trộm cắp tài sản. Khi cả hai đến số nhà 71, phố K thuộc phường G, quận H, Hà Nội thì phát hiện 01 xe máy điện nhãn hiệu Takuda, BKS 29MĐ1-43213 của chị Phạm Thị L (sinh năm 1993, trú tại : Số 163 T, phường H, quận Đ, Hà Nội) đang dựng trên vỉa hè. K bảo H cầm lái xe máy rồi xuống xe, đi bộ đến gần xe máy điện, gạt chân chống, dắt xe xuống đường. Do không nổ máy xe máy điện được nên K ngồi lên yên xe, rồi bám vào vai H để H kéo đi bằng xe máy. Khi cả hai đi được một đoạn thì chị L nhìn thấy nên chạy bộ đuổi theo. Lúc đó, có anh Vũ Hà Đ là người làm nghề ‘xe ôm” đi xe máy ngang qua, anh H đã chở chị L đuổi theo K và H. Khi đến số nhà 12, phố T, thấy có người đuổi theo, K nhảy khỏi xe bỏ chạy thì bị ngã, xe máy điện vướng vào xe máy H đang đi nên cả hai xe đổ ra đường, K, H bị chị L và quần chúng nhân dân bắt giữ. Sau đó, cơ quan Công an đến lập biên bản, đưa cả hai cùng tang vật về trụ sở làm việc.
Theo kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 287/HĐĐG ngày 24/10/2017 kết luận: chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUDAcó giá trị 4.000.000 đồng.
Ngày 05/11/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hoàng Mai đã trao trả chị L chiếc xe này, chị L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Tại bản cáo trạng số 413/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Duy K, Bùi Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 138, điểm p khoản 1 điều 46, điều 33 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Duy K, Bùi Quang H, mỗi bị cáo từ 10 đến 12 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo; Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xét; Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy thu giữ của Nguyễn Duy K để xác minh, làm rõ và xử lý sau nên đề nghị không xem xét trong vụ án này.
Tại phiên toà: Các bị cáo Nguyễn Duy K, Bùi Quang H khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố tại phiên tòa là đúng.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo K, bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy quy định của Pháp luật.
Ngày 03/09/2017, bằng thủ đoạn lén lút, Nguyễn Duy K, Bùi Quang H đã chiếm đoạt 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu TAKUDA, BKS 29MĐ1-43213 có giá trị 4.000.000 đồng, là tài sản thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L. Đối chiếu quy định của Pháp luật, Nguyễn Duy K, Bùi Quang H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng Pháp luật hình sự.
Xét vai trò của từng bị cáo: K là người khởi xướng việc trộm cắp tài sản và là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. H giúp K vào lấy tài sản và đưa tài sản trộm cắp được đi nơi khác. Xét trong vụ án, K giữ vai trò chính, H là đồng phạm với vai trò giúp sức
Về nhân thân: Bị cáo K đã có 03 tiền án, 01 tiền sự, bị cáo H đã có 01 tiền án, 02 tiền sự. Mặc dù các án tích của bị cáo K, H đã được xóa, tiền sự đã hết thời hiệu nhưng thể hiện các bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng không chịu sửa chữa, có ý thức coi thường Pháp luật.
Để cải tạo, giáo dục các bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo theo quy định tại điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét hai bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản , không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Khi bắt giữ bị cáo, cơ quan công an thu giữ của bị cáo K 01 xe máy nhãn hiệu Honda WaveS BKS29U1-18319 đã qua sử dụng.
Theo lời khai của K, đây là chiếc xe K mượn của bố dượng là ông Đỗ Văn H (sinh năm 1966, đăng ký HKTT: 62E6 Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội). Ông H khai mua xe của người không quen biết ở chợ xe với giá 15.000.000 đồng và xuất trình giấy bán xe ngày 12/11/2014, ghi tên người bán là Nguyễn Thị H. Qua tra cứu, chiếc xe mang tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1954, đăng ký HKTT: thôn T, phường Q, thị xã S), bà H khai bị mất trộm chiếc xe vào năm 2013 nhưng không đi trình báo. Do chưa làm rõ được những vấn đề liênquan đến quyền sở hữu tài sản trên nên ngày 01/11/2017, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên để điều tra, làm rõ và xử lý sau. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 99 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố : Nguyễn Duy K, Bùi Quang H phạm tội ‘‘Trộm cắp tài sản’’
Áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo K, H
Xử phạt:
Nguyễn Duy K 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/09/2017 (ngày bắt quả tang).
Bùi Quang H 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/09/2017 (ngày bắt quả tang).
Về án phí: Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH16 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Người tham gia tố tụng, - VKSND Q. Hoàng Mai, - Chi cục thi hành án dân sự Q. Hoàng Mai, - Công an quận Hoàng Mai, - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Diệu Thúy |