vanban.org

Bản án 40 — Tranh chấp về thừa kế tài sản

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền"
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ Luật t t ng dân sự; Điều 309 Bộ Luật t t ng dân sự; Điều 74 Bộ luật t t ng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 40/2021/DS-PT
Ngày: 27-5-2021
V/v tranh chấp yêu cầu thực hiện
nghĩa v trả tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Th nh h n i n

h h

:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Thanh Thái

Ông Nguyễn Hồng Thái

Thư ký hiên òa: Ông Thái Văn Trung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiể sá nhân dân ỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2021 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận t phúc th m c ng khai v án dân sự th lý s 132/2020/TLPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2020 về việc: “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền ”.

Do Bản án dân sự sơ th m s 35/2020/DS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa v án ra t s 56/2021/QĐ-PT ngày 14 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Phượng Kh sinh năm 1966.

Địa chỉ: 32 Pasteur khu ph 4 phường LĐ Tp Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

Chỗ hiện nay: 26 Đào Duy Anh P Tr Phan Thiết Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Qu c Ph sinh năm: 1971.

Địa chỉ: B31 Khu dân cư ĐXA Tp Phan Thiết Bình Thuận.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Võ Thị Hồng Kh sinh năm 1971.

Địa chỉ: B31 Khu dân cư ĐXA, Tp Phan Thiết Bình Thuận.

+ Bà Lâm Phượng H sinh năm 1977 (chết ngày 03/01/2021).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Hoàng:

+ Ông Vũ Duy Th sinh năm 1973

+ Anh Vũ Lâm Kỳ Ph sinh năm 2002

+ Cháu Vũ Lâm Kỳ Ph sinh năm 2009

Cùng địa chỉ: Khu ph 2 phường PT Tp Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

+ Ông Lâm Quang V sinh năm 1968.

Địa chỉ: 68 LD Tp Phan Thiết tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn bị đơn bà Võ Thị Hồng Kh, ông Lâm Quang V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ th m:

Nguyên đơn, bà Lâm Phượng Kh trình bày: Bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V, bà Lâm Phượng H là con của c Lâm Quang Nh và c Vũ Thúy Ng. Sau khi c Ng chết, c Nh lập di chúc phân chia tài sản vào ngày 18/11/2011 với nội dung: Tiền bán tài sản thừa kế được chia làm 04 phần 03 người con hư ng 03 phần 01 phần còn lại giao cho bà Kh để bà có trách nhiệm ây dựng lại nhà tự, thờ cúng ng bà tổ tiên dòng họ L. Sau khi c Nh chết bà Kh, ông V, bà H th ng nhất bán toàn bộ tài sản thừa kế là quyền s d ng đất và ng i nhà s 22 Thủ Khoa Huân thành ph PT tỉnh Bình Thuận cho ông Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng K với s tiền 13.200.000.000 đồng theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền s d ng đất và tài sản gắn liền với đất do Văn phòng c ng chứng Ph Th ký ngày 22/01/2016, nhưng trong hợp đồng chỉ ghi giá chuyển nhượng 4.000.000.000 đồng.

Hiện nay, ông Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh đã trả cho bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V và bà Lâm Phượng H s tiền 10.200.000.000 đồng s tiền này đã chia cho ba chị em là bà Kh, ông V và bà H. S tiền còn lại 3.000.000.000 đồng theo di chúc thì giao cho bà Kh quản lý và bà có trách nhiệm dùng s tiền này mua lại 01 căn nhà khác để làm nhà tự họ L. Ngày 22/10/2018, ông Nguyễn Qu c Ph và bà Lâm Phượng Kh làm Hợp đồng ghi nợ với nội dung ông Nguyễn Qu c Ph nợ tiền mua đất 3.000.000.000 đồng thời hạn trả nợ từ ngày 22/10/2018 cho đến ngày 31/3/2019.

Tính cho đến nay, ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh chỉ mới trả cho bà Lâm Phượng Kh được 200.000.000 đồng vào ngày 05/11/2018 và 01 lượng vàng tương đương 36.000.000 đồng vào ngày 29/3/2019, tổng s tiền ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh đã trả cho bà Lâm Phượng Kh là 236.000.000 đồng nên còn nợ lại 2.764.000.000 đồng. Căn cứ vào di chúc do c Nh lập ngày 18/11/2011 và Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018, bà yêu cầu ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh thực hiện nghĩa v trả s tiền còn lại là 2.764.000.000 đồng cho bà.

Bị đơn, ông Nguyễn Quốc Ph và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Võ Thị Hồng Kh trình bày: Ông, bà thừa nhận vào ngày 22/10/2018, ông Nguyễn Qu c Ph cùng với bà Lâm Phượng Kh ký Hợp đồng cho ghi nợ tiền mua đất 3.000.000.000 đồng. Lý do có việc ký nhận nợ s tiền này là vì ngày 22/01/2016, ông bà đã mua lại toàn bộ tài sản thừa kế là quyền s d ng đất và ng i nhà s 22 Thủ Khoa H, thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận với s tiền 13.200.000.000 đồng từ bà Lâm Phượng Kh, bà Lâm Phượng H và ông Lâm Quang V theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền s d ng đất và tài sản gắn liền với đất do Văn phòng c ng chứng Ph Th ký ngày 22/01/2016, ông bà đã trả trước cho bà Lâm Phượng Kh bà Lâm Phượng H và ông Lâm Quang V 10.200.000.000 đồng.

Căn cứ vào di chúc do c Lâm Quang Nh là cha của bà Kh, ông V, bà H lập ngày 18/11/2011 thì s tiền bán tài sản thừa kế được chia làm 04 phần 03 người con hư ng 03 phần s tiền còn lại tương đương 3.000.000.000 đồng theo di chúc là giao cho bà Lâm Phượng Kh quản lý và dùng s tiền này mua lại 01 căn nhà khác để làm nhà tự cho họ L.

Do bà Lâm Phượng Kh nhiều lần đòi nợ nên ng Nguyễn Qu c Ph đã cùng với bà Lâm Phượng Kh làm Hợp đồng cho ghi nợ vào ngày 22/10/2018, qua đó Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh đã ghi nợ tiền mua đất là 3.000.000.000 đồng thời hạn trả nợ từ ngày 22/10/2018 cho đến ngày 31/3/2019. Tính cho đến nay ông bà đã trả cho bà Lâm Phượng Kh được 200.000.000 đồng vào ngày 05/11/2018 và 01 lượng vàng tương đương 36.000.000 đồng vào ngày 29/3/2019, tổng cộng là 236.000.000 đồng.

Ông bà thừa nhận còn thiếu tiền mua đất là 2.764.000.000 đồng, nhưng đây là khoản nợ từ Hợp đồng chuyển nhượng quyền s d ng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 22/01/2016 để mua lại tài sản thừa kế là quyền s d ng đất và căn nhà s 22 Thủ Khoa H, thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận từ bà Kh, ông V, bà H nên ông, bà chỉ đồng ý trả s tiền này cho 03 người, gồm có bà Lâm Phượng Kh bà Lâm Phượng H và ông Lâm Quang V, còn bà Lâm Phượng Kh chỉ là người đại diện ký tên trong giấy Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018 nên việc bà Kh kh i kiện yêu cầu ng bà có trách nhiệm trả nợ s tiền 2.764.000.000 đồng cho bà Kh là kh ng đúng nên ng bà kh ng đồng ý trả.

Ngày 10/7/2019, ng Nguyễn Qu c Ph có đơn yêu cầu phản t vì cho rằng kh i tài sản gồm nhà và đất tại s 22 Thủ Khoa H thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận đã được ng Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh mua lại từ bà Lâm Phượng Kh bà Lâm Phượng H và ông Lâm Quang V. Hiện nay ông Ph đã được cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất s 460106 (hồ sơ g c s 6989) do UBND tỉnh Bình Th cấp ngày 19/5/2004 cập nhật biến động ngày 21/01/2016 và Giấy chứng nhận quyền s d ng đất s Đ 798403 (s vào sổ cấp GCN: 1627 QSDĐ/3401/QĐ-UBPT) do UBND thành ph Phan Thiết cấp ngày 09/7/2004 cập nhật biến động ngày 21/01/2016 qua đó yêu cầu bà Lâm Phượng Kh phải giao trả cho ng Ph kh i tài sản này. Đến ngày 17/6/2020 ông Ph có đơn in rút lại toàn bộ yêu cầu phản t .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Quang V trình bày: Th ng nhất trình bày của bà Lâm Phượng Kh về hàng thừa kế nội dung di chúc và việc chuyển nhượng quyền s d ng nhà đất cho vợ chồng ông Nguyễn Qu c Ph.

Hiện nay ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh đã trả cho bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V và bà Lâm Phượng H 10.200.000.000 đồng nên còn thiếu lại 3.000.000.000 đồng. S tiền này được ghi trong Hợp đồng cho ghi nợ vào ngày 22/10/2018 giữa bà Lâm Phượng Kh với ông Nguyễn Qu c Ph là s tiền nợ từ bán tài sản của cha mẹ mà có nên đây là khoản tiền thừa kế chưa chia việc bà Kh căn cứ Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018 để kh i kiện buộc ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh thực hiện nghĩa v trả nợ s tiền 3.000.000.000 đồng cho bà Kh là kh ng đúng nên ng Lâm Quang V kh ng đồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà Kh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Phượng H trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trình bày: Th ng nhất trình bày của bà Lâm Phượng Kh về hàng thừa kế nội dung di chúc và việc chuyển nhượng quyền s d ng nhà đất cho vợ chồng ng Nguyễn Qu c Ph. Tính đến nay ông Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh đã trả cho bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang Vvà bà Lâm Phượng H 10.200.000.000 đồng nên còn thiếu lại 3.000.000.000 đồng. S tiền này là khoản tiền thừa kế chưa chia nên việc bà Kh yêu cầu ng Ph, bà Kh thực hiện nghĩa v trả nợ s tiền 3.000.000.000 đồng cho bà Kh là chưa phù hợp. Bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật và bà đề nghị Tòa án t vắng mặt bà vì lý do sức khỏe.

Trong giai đoạn t phúc th m bà H chết người kế thừa quyền và nghĩa v t t ng của bà H từ ch i tham gia t t ng và kh ng có ý kiến gì về việc giải quyết v án.

Sau khi hòa giải kh ng thành.

Ngày 20/8/2020 Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết đã đưa v án ra t tại bản án s 35/2020/DS-ST; Quyết định:

1. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26 điểm a khoản 1 Điều 35 điểm g khoản 1 Điều 40 Điều 91 Điều 93, Điều 95 Điều 134 Điều 138 Điều 147 Điều 174 Điều 199 Điều 200 Điều 233 Điều 235, Điều 266 và Điều 273 của Bộ Luật t t ng dân sự;

- Điều 116 Điều 117 Điều 118, Điều 328 Điều 357 Điều 385 Điều 401 Điều 408 và Điều 428 của Bộ luật dân sự;

- Điều 33 Điều 34 của Luật h n nhân và gia đình;

- Điều 97 Điều 98 Điều 99 và Điều 168 của Luật đất đai;

- Các Điều 2 6 7 7A 7B 9 30 của Luật Thi hành án dân sự;

- Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên : Không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Lâm Phượng Kh về việc buộc ng Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Khthực hiện nghĩa v trả s tiền 2.764.000.000 đồng cho bà Lâm Phượng Kh.

2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 244 và Điều 235 của Bộ luật T t ng dân sự:

Đình chỉ t đ i với yêu cầu phản t của bị đơn đã rút về việc buộc nguyên đơn giao trả kh i tài sản gồm nhà và đất tại s 22 Thủ Khoa H, thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận đã được cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất s 460106 (hồ sơ g c s 6989) do UBND tỉnh Bình Th cấp ngày 19/5/2004 cập nhật biến động ngày 21/01/2016 và Giấy chứng nhận quyền s d ng đất s Đ 798403 (s vào sổ cấp GCN: 1627 QSDĐ/3401/QĐ-UBPT) do UBND thành ph Phan Thiết cấp ngày 09/7/2004, cập nhật biến động ngày 21/01/2016.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ Luật t t ng dân sự và khoản 1 Điều 26 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án bà Lâm Phượng Kh phải chịu 87.280.000 đồng án phí dân sự sơ th m. Ngày 11/4/2019 bà Lâm Phương Kh đã nộp 46.000.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền s 0024377ngày 11/4/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự thành ph Phan Thiết bà Lâm Phượng Kh phải tiếp t c nộp 41.280.000 đồng án phí dân sự sơ th m.

Căn cứ khoản 3 Điều 218 của Bộ Luật t t ng dân sự và khoản 3 Điều 18 của Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả cho ng Nguyễn Qu c Ph 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phản t theo Biên lai thu tiền s 0028092 ngày 01/10/2019 của Chi c c Thi hành án dân sự thành ph Phan Thiết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự quyền yêu cầu thi hành án nghĩa v thi hành án thời hiệu thi hành án.

Ngày 28/8/2020, nguyên đơn bà Lâm Phượng Kh kháng cáo bản án sơ th m yêu cầu cấp phúc th m em t lại toàn bộ bản án sơ th m theo quy định của pháp luật để đảm bảo tính c ng bằng và khách quan của v án.

Tại phiên tòa phúc th m:

- Bà Lâm Phượng Kh vẫn giữ nguyên kháng cáo yêu cầu ng Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh căn cứ vào di chúc do ng Nh lập ngày 18/11/2011 và Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018 trả cho bà s tiền còn lại là 2.764.000.000 đồng.

- Ông Nguyễn Qu c Ph bà Võ Thị Hồng Kh kh ng đồng ý kháng cáo của bà Kh, theo ông Ph chỉ đồng ý trả s tiền này cho 03 người, gồm có bà Lâm Phượng Kh bà Lâm Phượng H và ông Lâm Quang V còn bà Lâm Phượng Kh chỉ là người đại diện ký tên trong giấy Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018 nên việc bà Kh kh i kiện yêu cầu ng Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh có trách nhiệm trả nợ s tiền 2.764.000.000 đồng cho bà Kh là kh ng đúng.

- Ông Lâm Quang V đề nghị Tòa án giải quyết v án theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:

Về t t ng: Th m phán và Hội đồng t phúc th m người tham gia t t ng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật t t ng dân sự.

Về nội dung: Theo nội dung di chúc của c Nh và c Ng và căn cứ hợp đồng ghi nợ giữa bà Lâm Phượng Kh và ng Nguyễn Qu c Ph thì yêu cầu kh i kiện cả bà Kh buộc ng Nguyễn Qu c Ph bà Võ Thị Hồng Kh trả lại s tiềnn 2.764.000.000đồng là có căn cứ cấp sơ th m kh ng chấp nhận yêu cầu của bà Kh là kh ng đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng t căn cứ khoản 2 Điều 308 Điều 309 Bộ luật t t ng dân sự s a bản án sơ th m của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết theo hướng chấp nhận kháng cáo và yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Trong v này các đương sự đều thừa nhận giá trị thực của hợp đồng chuyển nhượng quyền s d ng đất và tài sản trên đất là 13.200.000.000đồng nhưng các bên chỉ ghi trong hợp đồng chuyển nhượng giá 4.000.000.000đồng. Việc này có dấu hiệu tr n thuế Viện kiểm sát sẽ kiến nghị cơ quan có th m quyền lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án căn cứ vào kết quả th m tra tại phiên tòa phúc th m t yêu cầu kháng cáo của bà Lâm Phượng Kh đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận Hội đồng t phúc th m nhận định:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn Lâm Phượng Kh thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật t t ng dân sự đơn làm trong hạn luật định là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc th m nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện và yêu cầu kháng cáo các đương sự kh ng yêu cầu tự thương lượng giải quyết v án. Do đó Hội đồng t phúc th m tiến hành phiên tòa phúc th m em t toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Về t t ng: Bà Lâm Phượng H chết vào ngày 03/01/2021. Căn cứ khoản 1 Điều 74 Bộ luật t t ng dân sự, Tòa án đưa ng Vũ Duy Th là chồng và anh Vũ Lâm Kỳ Ph, cháu Vũ Lâm Kỳ Ph là con của bà H vào tham gia t t ng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa v t t ng. Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/4 và 04/5/2021, ông Th, anh Ph đều yêu cầu kh ng đưa họ vào tham gia t t ng trong v án này, vì lý do bận làm ăn đi học xa; không có ý kiến hay yêu cầu về việc giải quyết v án. X t thấy việc từ ch i tham gia t t ng của ng Th, anh Ph là hoàn toàn tự nguyện việc từ ch i tham gia t t ng của họ kh ng làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác nên có cơ s chấp nhận.

Bà Lâm Phượng Kh kh i kiện yêu cầu ng Nguyễn Qu c Ph trả s tiền 2.764.000.000 đồng là căn cứ vào nội dung di chúc của c Nh và Hợp đồng cho ghi nợ ngày 22/10/2018 giữa bà Phượng Kh và ông Ph. C thể là: Bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V, bà Lâm Phượng H là con của c Lâm Quang Nh và c Vũ Thúy Ng. Sau khi c Ng chết ngày 18/11/2011, c Nh lập di chúc phân chia tài sản, trong đó có nhà và đất tại s 22 Thủ Khoa H, thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận, với nội dung: Tiền bán tài sản thừa kế được chia làm 04 phần 03 người con hư ng 03 phần 01 phần còn lại giao cho bà Kh để bà có trách nhiệm ây dựng lại nhà tự, thờ cúng ng bà tổ tiên dòng họ L. Sau khi c Nh chết bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V, bà Lâm Phượng H đã th ng nhất bán toàn bộ tài sản thừa kế là quyền s d ng đất và ng i nhà s 22 Thủ Khoa H, thành ph Phan Thiết tỉnh Bình Thuận cho ông Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh với s tiền 13.200.000.000 đồng. Ông Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh đã trả cho bà Lâm Phượng Kh, ông Lâm Quang V và bà Lâm Phượng H s tiền 10.200.000.000 đồng s tiền này đã chia cho 3 người là bà Kh, bà H và ông V. S nợ còn lại là 3.000.000.000 đồng. Ngày 22/10/2018, ông Nguyễn Qu c Ph và bà Lâm Phượng Kh có làm Hợp đồng cho ghi nợ với nội dung: Bà Lâm Phượng Kh cho ng Nguyễn Qu c Ph nợ s tiền 3 tỷ đồng m c đích là nợ tiền mua đất. Thời hạn trả nợ từ ngày 22/10/2018 đế ngày 31/3/2019. Sau đó vợ chồng ông Nguyễn Qu c Ph, bà Võ Thị Hồng Kh chỉ mới trả cho bà Lâm Phượng Kh tổng cộng là 236.000.000 đồng, nên còn nợ lại 2.764.000.000 đồng.

Hợp đồng cho ghi nợ giữa ng Ph và bà Kh ngày 22/10/2018 hội đủ các điều kiện của giao dịch dân sự có hiệu lực theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự nên đã phát sinh quyền và nghĩa v của các bên theo hợp đồng. Sau khi ký hợp đồng vợ chồng ng Ph đã kh ng trả nợ đúng hạn cho bà Kh, do vậy quyền lợi của bà Kh bị âm phạm nên bà có quyền kh i kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho bà kh ng ph thuộc vào ý chí của ng V và bà H có yêu cầu ng Ph trả nợ hay kh ng. Tại phiên tòa ng Ph cũng thừa nhận chưa trả bà Kh s tiền 2.764.000.000 đồng theo hợp đồng ghi nợ như trên. Sau khi ký hợp đồng ghi nợ ng Ph đã trả cho bà Kh 236.000.000đồng (trả riêng cho bà Kh chứ kh ng phải trả chung cho 03 người là bà Kh, ông V, bà H) và từ khi ng V, bà H nhận tiền chia thừa kế từ việc bán tài sản cho ng Ph thì s tiền ng Ph chưa trả bà H, ông V kh ng có ý kiến gì. Như vậy ng Ph đã vi phạm nghĩa v trả tiền theo thỏa thuận với bà Kh, nên bà Kh kh i kiện yêu cầu ng Ph trả s tiền nợ còn lại là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 352 Bộ luật dân sự: “Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”. Ông Ph kh ng đồng ý trả nợ cho bà Kh với lý do nguồn g c của việc nợ là uất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền s d ng đất giữa ng bà Kh, ông V, bà H s tiền nợ còn lại ng chỉ đồng ý trả cho ng Vũ bà Kh, bà H chứ kh ng đồng ý trả cho bà Kh ý kiến của ng Ph như trên là kh ng có cơ s chấp nhận vì ng V, bà H kh ng có yêu cầu ng Ph phải trả nợ nên kh ng thể buộc ng Ph trả nợ cho 3 người, và ông Ph chỉ ký hợp đồng ghi nợ với một mình bà Kh. Cấp sơ th m kh ng chấp nhận yêu cầu của bà Kh như ý kiến của ng Ph là sai lầm trong áp d ng pháp luật. Trong v án này các đương sự đều thừa nhận s tiền ng Ph nợ bà Kh theo hợp đồng ghi nợ nêu trên là di sản của c Nh và c Ng chết để lại nhưng kh ng ai có yêu cầu chia di sản thừa kế nên Tòa án kh ng em t giải quyết. Nếu có tranh chấp chia thừa kế đ i với s tiền này thì sẽ giải quyết trong v án khác.

Với các căn cứ trên kháng cáo của bà Lâm Phượng Kh là có cơ s để chấp nhận. Do bản án sơ th m bị s a nên bà Kh kh ng phải chịu án phí phúc th m theo quy định tại khoản 2 Điều 148 Bộ luật t t ng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QU T ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ Luật t t ng dân sự.

Chấp nhận kháng cáo của bà Lâm Phượng Kh. S a Bản án dân sự sơ th m s 35/2020/DS-ST ngày 20/8/2020 của Tòa án nhân dân thành ph Phan Thiết.

Áp d ng:

- Khoản 3 Điều 26 Điều 147 148 Bộ Luật t t ng dân sự;

- Điều Điều 117 Điều 352 Điều 357 Bộ luật dân sự;

- Điều 33 Luật H n nhân và gia đình;

- Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của bà Lâm Phượng Kh.

Buộc ng Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh phải trả cho bà Lâm Phượng Kh s tiền 2.764.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án ong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của s tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Bà Lâm Phượng Kh kh ng phải chịu án phí dân sự sơ th m và án phí dân sự phúc th m. Hoàn trả cho bà Lâm Phượng Kh 46.000.000 đồng tạm ứng án phí sơ th m theo Biên lai thu tiền s 0024377 ngày 11/4/2019 và 300.000đồng tạm ứng án phí dân sự phúc th m theo biên lai s 0007854 ngày 28/8/2020 của Chi c c Thi hành án dân sự thành ph Phan Thiết.

Buộc ng Nguyễn Qu c Ph và bà Võ Thị Hồng Kh phải chịu 87.280.000 đồng án phí dân sự sơ th m.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6 Điều 7 Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ th m kh ng có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/5/2021)

Cỡ chữ