- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGHỊ MINH Â - hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nghị Minh  phạm tội “Hủy hoại tài sản”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| N TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2026/HS-ST Ngày: 24 - 4 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thạch Đa Ra
2. Ông Trần Quốc Việt
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Vĩnh Long, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2026/HSST, ngày 22 tháng 01 năm 2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2026 và Theo thông báo dời ngày xét xử số 07/TB-TA ngày 07/4/2026 đối với bị cáo:
Nghị Minh Â, sinh ngày 27/3/2008; nơi cư trú: ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghị M, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị Mỹ N, sinh năm 1987. Bị cáo chưa có vợ và con. Tiền án: không; tiền sự: 01 (ngày 11/7/2025 bị Công an xã S, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý); bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/11/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nghị Minh Â: ông Nguyễn Truyền T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T2 tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nghị Minh Â: bà Trịnh Thị Thu T1, sinh năm 1960
Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị hại:
1. Ông Nghị M, sinh năm 1980
Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bà Phạm Thị Mỹ N, sinh năm 1987
Nơi cư trú: ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do tức giận về việc bị cha mẹ báo Công an kiểm tra chất ma túy đối với mình và quản lý không cho đi chơi chung với bạn bè, nên vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/8/2025, bị cáo Nghị Minh  (sinh ngày 27/3/2008) nảy sinh ý định đốt nhà kho của cha mẹ là ông Nghị M và bà Phạm Thị Mỹ N, tại ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long. Lúc này, bị cáo  đi đến chỗ cái bàn gần giường ngủ lấy 01 cái bật lửa loại Zippo màu vàng – đen, cầm bật lửa bằng tay phải, sau đó đi đến đầu tủ quần áo đặt ở nhà trước để lấy chùm chìa khóa loại Việt Tiệp rồi đi ra nhà kho (chứa rơm, lúa, phân bón và dụng cụ lao động của gia đình), bị cáo  dùng chìa khóa mở ổ khóa cửa nhà kho ra rồi bị cáo đi vào bên trong nhà kho, đến chỗ chứa rơm khô cuộn sẵn, bị cáo  liền dùng tay phải đang cầm bật lửa sử dụng ngón tay cái của bàn tay phải bật nắp bật lửa ra rồi đánh lửa để lửa cháy, bị cáo  đưa bật lửa tiếp xúc với cuộn rơm khô để cho cuộn rơm cháy, khi nhìn thấy cuộn rơm đã bốc cháy thì bị cáo đi ra bên ngoài nhà kho đóng cửa lại rồi dùng tay bóp ổ khóa của cửa nhà kho lại để lửa cháy bên trong nhà kho. Sau đó, bị cáo  đi vào nhà để bật lửa và chùm chìa khóa ở vị trí cũ rồi lên gường nằm, nhìn thấy bị cáo chưa ngủ nên cha của bị cáo là ông Nghị M đi đến hỏi thì bị cáo  trả lời “Con đốt nhà rơm rồi”, nghe vậy ông M liền đi ra kiểm tra thì phát hiện đám cháy lớn ở nhà kho, ông M kêu vợ là bà Phạm Thị Mỹ N cùng truy hô mọi người xung quanh và B Công an đến hỗ trợ dập lửa, do đám cháy quá lớn đến khoảng vài giờ sau mới dập tắt được đám cháy (búc lục 02-06, 109-135).
Sau khi nhận được tin báo, Công an xã S đã phân công lực lượng đến ngay hiện trường hỗ trợ dập lửa. Sau khi dập tắt đám cháy, ông M và bà N cùng lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra lại các tài sản bị thiệt hại, kết quả đã xác định được các tài sản bị hư hỏng hoàn toàn sau vụ cháy, không còn sử dụng được bao gồm:
- 20 bao lúa khô, loại lúa 5451, mỗi bao nặng 50kg;
- 450 cuộn rơm khô;
- 01 máy xới đất hiệu DONGFONG (máy xới tay), máy cũ đã qua sử dụng;
- 01 bình máy rãi phân hiệu HONDA, máy cũ đã qua sử dụng;
- 01 bình máy phun thuốc hiệu HONDA, máy cũ đã qua sử dụng;
- 03 thùng dầu Diesel, mỗi thùng chứa 30 lít dầu;
- 15 bao phân hữu cơ nhãn hiệu con voi Bình Dương, mỗi bao nặng 50kg;
- 01 giàn máy bơm nước hiệu HONDA 5.5HP, máy cũ đã qua sử dụng;
- 20 cây tre mỗi cây có chiều dài từ 06 đến 10 mét (loại tre gai già dùng để cất nhà, dừng vách);
- 01 cái cân đồng hồ nhãn hiệu NHƠN HÒA loại 150kg;
- 02 cái máy nổ D15, máy cũ đã qua sử dụng;
- 155 mét Tonl, loại Tonl Hoa Sen độ dày 0.4mm.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 304/KL-HĐĐGTS ngày 02/10/2025 và Công văn số 409/CV-HĐĐGTS ngày 30/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long xác định: Tổng giá trị tài sản bị huỷ hoại trong vụ cháy tại thời điểm ngày 17/8/2025 là 44.094.000 đồng (bút lục 96-104).
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại là cha và mẹ của mình với số tiền 2.000.000 đồng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có ông cố tham gia cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến và bà cố là Mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được xem xét cho bị cáo.
Vật chứng, đồ vật thu giữ, tạm giữ:
- 01 bật lửa dạng Zippo bằng kim loại màu vàng trên thân bật lửa có chữ Jun88, kích thước 05 x 3,7 x 01 cm;
- 01 ổ khoá loại VIET – TIEP;
- 03 chìa khoá loại VIET – TIEP.
Về xử lý vật chứng, đồ vật: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã khắc phục được cho bị hại là ông Nghị M và bà Phạm Thị Mỹ N với số tiền 2.000.000 đồng, các bị hại không còn yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 43/CT-VKSKV10 ngày 21/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Vĩnh Long đã truy tố Nghị Minh  về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Nghị Minh  phạm tội “Hủy hoại tài sản” như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Nghị Minh  từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng Cải tạo không giam giữ và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vị luật sư bào chữa bảo vệ quyền lợi cho bị cáo thống nhất với bản cáo trạng cũng như luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giử mà Viện kiểm sát đã đề nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nghị Minh  đã khai nhận:
Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/8/2025, tại ấp Đ, xã S, tỉnh Vĩnh Long, do tức giận cha mẹ vì đã báo Công an kiểm tra chất ma túy đối với mình nên bị cáo Nghị Minh  đã dùng bật lửa để đốt cuộn rơm chứa trong nhà kho của gia đình làm lửa bốc cháy hủy hoại các tài sản của cha mẹ bị cáo là ông Nghị M và bà Phạm Thị Mỹ N bao gồm: 20 bao lúa khô; 450 cuộn rơm khô; 01 máy xới đất; 01 bình máy rãi phân; 01 bình máy phun thuốc; 03 thùng dầu Diesel; 15 bao phân hữu; 01 giàn máy bơm nước; 20 cây tre; 01 cái cân đồng hồ; 02 cái máy nổ; 155 mét tonl. Tổng giá trị tài sản bị hủy hoại là 44.094.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nghị Minh  đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Vĩnh Long truy tố bị cáo Nghị Minh  về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì cha, mẹ trình báo Công an kiểm tra chất ma túy trong người bị cáo, nên bị cáo dùng bật lửa đốt nhà kho làm hư hỏng một số tài sản trị giá 44.094.000 đồng. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến tài sản của công dân, mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục cho bị hại số tiền 2.000.000 đồng; bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; gia đình bị cáo có công với nước. Mặc khác, khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần xem xét áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự và Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên để xử phạt bằng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp. Về khấu trừ thu nhập: bị cáo bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự phải khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nhiệp ổn định nên miễn áp dụng khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nghị M và bà Phạm Thị Mỹ N không có yêu cầu và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo bà Trịnh Thị Thu T1 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét lời bào chữa của vị luật sư bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là có căn cứ, Hội dồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng: 01 bật lửa dạng Zippo bằng kim loại màu vàng trên thân bật lửa có chữ Jun88, kích thước 05 x 3,7 x 01cm; 01 ổ khóa loại VIET-TIEP; 03 chìa khóa loại VIET-TIEP cần tịch thu tiêu huỷ quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nghị Minh  phạm tội “Hủy hoại tài sản”. 1.1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 178; điểm b,i,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự; Điều 118 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Nghị Minh  01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh V nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nghị Minh  cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Vĩnh Long để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nghị Minh Â.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nghị M và bà Phạm Thị Mỹ N không yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 bật lửa dạng Zippo bằng kim loại màu vàng trên thân bật lửa có chữ Jun88, kích thước 05 x 3,7 x 01cm; 01 ổ khóa loại VIET - TIEP; 03 chìa khóa loại VIET - TIEP.
3. Về án phí: Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nghị Minh  nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND Khu vực 10 – Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long; - Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Vĩnh Long; - Phòng THADS Khu vực 10-Vĩnh Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Sỹ |