- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc Đạt và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ TỈNH BÌNH ĐỊNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2024/HS-ST Ngày 13-8-2024 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lộc;
2. Ông Lê Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hữu Xuân Lộc là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Cẩm Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 1515/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Võ Quốc Đ, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1999; quê quán: Xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Kim T và bà Nguyễn Thị Thanh T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 30/11/2023; tạm tha: Chưa; bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, có mặt.
2. Nguyễn Trần Nhật N, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1992; quê quán: Thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ D, Khu V, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Trần Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/11/2012, bị Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xử phạt 05 (năm) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hưởng tài sản” theo bản án số: 83/2012/HS-ST. Ngày 28/5/2020, bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số: 60/2020/HS-PT; bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 30/11/2023; tạm tha: Chưa; bị cáo hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Tạ Nguyễn An T3, sinh năm: 1975; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (vắng mặt)
+ Ông Lê Tùng L, sinh năm: 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Công H, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (vắng mặt)
+ Ông Trần Bá V, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Thôn C , xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (vắng mặt)
+ Ông Nguyễn Quốc T4, sinh năm: 2000; nơi cư trú: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 28/11/2023, tại phòng 105 nhà nghỉ T8 thuô ̣c thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, Võ Quốc Đ và Nguyễn Trần Nhật N thống nhất mua ma túy về để sử dụng với số tiền 300.000 đồng. Lúc này, N chuyển khoản 600.000 đồng từ tài khoản Momo của N đến tài khoản Momo của Đ, trong đó có 300.000 đồng để nạp game và 300.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung. Theo lời khai của Đ mua ma túy của Nguyễn Anh K. Đ gọi qua số điện thoại cho K để mua 300.000 đồng tiền ma túy, nhưng K không đồng ý bán vì ít tiền nên Đ và N thống nhất góp thêm 200.000 đồng để chuyển 500.000 đồng từ ngân hàng V1 của Đ đến tài khoản ngân hàng của Võ Thị Ngọc T5. Khoảng 15 phút sau Zalo người tên “Tý chuột” gọi cho Đ bảo Đ đến chân trụ biển báo ở cầu Đ, xã M để lấy ma túy và một cái nỏ thủy tinh (vì nỏ thủy tinh cũ, quá trình sử dụng trước đó đã bị vỡ nên Đ xin cái mới để sử dụng). Lúc này, Đ sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, đỏ đen, biển kiểm soát 77N2 - 0605 (xe của Trương Văn P, sinh năm 1993, trú M, P, Bình Định) đến vị trí lấy ma túy và nỏ thủy tinh mang về nhà nghỉ. Khi về đến nhà nghỉ thì Đ cùng N lấy nỏ thủy tinh cũ đã bị vỡ ra để trên bàn gỗ và gắn nỏ thủy tinh mới có chiều dài 11,5cm vào bình hút ma túy của Đ và N (trước đây Đ và N đã tự chế dụng cụ sử dụng ma túy để sử dụng ma túy chung). Sau khi sử dụng ma túy còn lại trong nỏ thủy tinh vẫn còn sử dụng chưa hết Đ và N để trên bàn gỗ. Đến khoảng 11 giờ ngày 29/11/2023, Công an xã M, huyện P phối hợp cùng Công an huyện P kiểm tra hành chính và phát hiện trong phòng có nhiều tang vật liên quan đến ma túy nên lập biên bản tạm giữ, niêm phong và đưa N, Đ về trụ sở Công an để làm việc.
Qua điều tra, Nguyễn Trần Nhật N và Võ Quốc Đ đều khai nhận ngoài hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị phát hiện vào ngày 29/11/2023, Nguyễn Trần Nhật N và Võ Quốc Đ đã nhiều lần có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể như sau:
Vào ngày 23/11/2023, Võ Quốc Đ và Nguyễn Trần Nhật N hẹn gặp nhau tại Quảng trường xã M, huyện P. Quá trình ngồi nhậu nói chuyện, cả hai cùng thống nhất mua ma túy với giá 1.000.000 đồng về để cùng sử dụng. Sau đó, N đưa cho Đ 237.000 đồng để góp tiền mua ma túy. Sau đó, Đ liên hệ với người bán ma túy để mua ma túy và xin nỏ thủy tinh (theo lời khai của Đ người bán ma túy là Nguyễn Anh K. Sau khi K đồng ý, Đ chuyển khoản số tiền 500.000 đồng và nợ 500.000 đồng đến số tài khoản của Nguyễn Công H. Sau đó, có một người dùng Z “Tý chuột” gọi cho Đ hẹn giao dịch ma túy và nhận nỏ thủy tinh tại cầu Đ ở M. Lúc này, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS, đỏ đen, biển kiểm soát 77N2 - 0605 đến khu vực cầu Đ ở xã M, huyện P để lấy ma túy và nỏ thủy tinh trên, rồi cùng N đến nhà nghỉ T8 thuô ̣c thôn T, xã M thuê phòng 105 để sử dụng ma túy. Tại phòng 105, Đ cùng N sử dụng chai nước có sẵn ở phòng để chế thành dụng cụ sử dụng ma túy là chai nhựa cao 21cm, trên nắp chai gắn ống hút dài 21cm và nỏ thủy tinh có chiều dài 12cm và đổ ma túy vào nỏ để cả hai cùng sử dụng. Sau đó, Đ và N sinh hoạt bình thường tại phòng 105 nhà nghỉ T8.
Đến khoảng 19 giờ 00 phút ngày 24/11/2023, do thiếu tiền chơi game và không có tiền mua ma túy sử dụng nên N nhờ Đ cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Vespa của N (do ông Đào Minh T6, sinh năm 1973, trú tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q là cha dượng của N đứng tên chủ sở hữu). Đ gọi điện thoại cho K để cầm cố xe mô tô trên với giá 2.000.000 đồng (trong đó trả nợ 500.000 đồng mua ma túy vào ngày 23/11/2023 và mua thêm ma túy để sử dụng với giá 500.000 đồng), K đồng ý. Sau đó, Nguyễn Anh K gọi Lê Tùng L đến trại gà của anh Huỳnh Quang B ở C, M để chơi. Khi đến L gặp Nguyễn Quốc T4 và Nguyễn Anh K ở trại gà. Lúc này, K nói với L lên nhà nghỉ T8 để lấy xe Vespa về giùm. Theo lời khai của L thì cùng lúc này L thấy K đưa cho T4 một gói thuốc lá J màu trắng và đưa tiền cho T4, T4 đưa gói thuốc trên lại cho L, L kẹp gói thuốc trên ba ga trước của xe mô tô của T4, T4 chở L đến nhà nghỉ T8, T4 lấy gói thuốc kẹp ở ba ga trên đưa L và nói L lên phòng 105 đưa cho N rồi T4 nói với L là đi chuyển tiền. Sau đó, L cầm gói thuốc trên vào nhà nghỉ để lên phòng 105 nhà nghỉ T8 đưa cho Nguyễn Trần Nhật N. Khi vào phòng 105, L để gói thuốc lá nhãn hiệu Jet có chứa gói ma túy trên ở trên giường. Sau đó L đi tắm rồi xuống điều khiển xe Vespa trên đi về trại gà.
Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/11/2023 tại phòng 105 nhà nghỉ T8, Đ và N tiếp tục nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng nên Đ liên hệ K để mua 300.000 đồng tiền ma túy. Số tiền này được Đ chuyển từ tài khoản của Nguyễn Thị Thanh T1 là tài khoản ngân hàng đứng tên của Mẹ Đ nhưng Đ sử dụng đến số tài khoản M của K. Khoảng 30 phút sau, có một người dùng Z “Tý chuột” gọi cho Đ mở cửa phòng rồi ném ma túy vào phòng rồi bỏ đi. Lúc này, Đ và N tiếp tục sử dụng dụng cụ tự chế trên để sử dụng ma túy. Tuy nhiên, ma túy sử dụng vẫn chưa hết thì Nguyễn Quốc T4 và Trần Bá V đến, khi đến V cầm theo một bình hút ma túy tự chế bằng chai nhựa Stings bị móp méo nhiễu chỗ chiều cao 13,5cm, trên nắp chai gắn ống hút dài 27cm và nỏ thủy tinh dạng phễu, một đầu dạng trụ tròn, rỗng bên trong, đường kính 0,5cm, dài 12cm, bên trong đầu phễu bám dính chất ma túy để trên kệ đầu thu tivi (dụng cụ của V dùng để sử dụng ma tuý một mình đã hết trước đó tại nghĩa địa gần trường A, xã M, huyện P). Quá trình này, T4 đến tự lấy bình hút ma túy của N, Đ và một mình sử dụng ma túy rồi đi về. V ở lại chơi nhưng không sử dụng ma túy. Sau đó V đi về nhưng không cầm theo bình hút ma túy của V mà để quên tại phòng. Sau đó, Đ về nhà bạn gái ở xã C, P, còn N ở lại phòng sinh hoạt bình thường và không sử dụng bình hút ma túy của V để lại.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu: Nguyễn Trần Nhật N, Võ Quốc Đ, Nguyễn Quốc T4 và Trần Bá V có kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine.
Vật chứng, đồ vật, tài liệu thu giữ: 01 (Một) nỏ thủy tinh có chiều dài 11,5cm, một đầu của chiếc nỏ có dạng phễu, bên trong phễu có chất bám dính màu nâu đen; 01 (Một) nỏ bằng thủy tinh có chiều dài 12cm, một đầu của nỏ có dạng phễu và bị vỡ, bên trong nỏ có chất bám dính màu nâu đen; 01 (Một) chai nhựa có chiều cao 21cm; 01 ống hút có chiều dài 21cm; 04 (Bốn) hộp quẹt ga; 01 (Một) điện thoại di động mặt lưng màu đỏ, nhãn hiệu OPPO có số IMEI: 86522047899111 và gắn thẻ sim số 0768490942; 01 (Một) điện thoại di động mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Iphone có số IMEI: 356741084493658 và gắn thẻ sim số 0353303387; 01 (Một) xe máy hiệu Wave có biển kiểm soát 77N2-0605; 01 (Một) chai nhựa có chiều cao 13,5cm; 01 (Một) ống hút có chiều dài 27cm; 01 (Một) nỏ thủy tinh có chiều dài 12cm, một đầu của nỏ có dạng phễu và một đầu dạng ống trụ tròn, rỗng bên trong, có đường kính 0,5cm, bên trong phễu có chất bám dính màu nâu đen và bên trong phần ống dạng hình trụ tròn có chất bám dính màu trắng.
Ngày 04/12/2023, Phòng K1 - Công an tỉnh B có bản Kết luận giám định số: 519/KL-KTHS kết luận:
- Chất rắn màu đen bám dính bên trong đầu phễu của 01 (một) nỏ thủy tinh dài 11,5 cm (ký hiệu A1) gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ xác định khối lượng. (của Đ và N sử dụng)
- Chất rắn màu đen bám dính bên trong đầu phễu và chất rắn màu trắng bám dính bên trong phần ống hình trụ tròn đường kính 0,5 cm của 01 (một) nỏ thủy tinh dài 12cm (ký hiệu A2) gửi đi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,0108 gam là (loại): Methamphetamine. (của V sử dụng)
- Chất rắn màu đen bám dính bên trong đầu phễu bị vỡ và chất rắn màu trắng bám dính bên trong phần ống hình trụ của 01 (một) nỏ thủy tinh dài 12 cm (ký hiệu A3) gửi đi giám định đều là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính không đủ để xác định khối lượng. (của Đ và N sử dụng)
Xử lý vật chứng:
- Ngày 25/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 77N2-0605 cho ông Trương Văn P;
- Đối với 01 (Một) điện thoại di động mặt lưng màu đỏ, nhãn hiệu OPPO; 01(Một) điện thoại di động mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Iphone chuyển theo hồ sơ tin báo thụ lý đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số: 47/CT-VKS-PM ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N ra trước Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, các bị cáo nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật; bản kết luận giám định đối với ma tuý trong nỏ thuỷ tinh bị Công an thu giữ là đúng; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo là đúng, không oan.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo; nêu luận tội và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Quốc Đ từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù;
+ Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Nhật N từ 04 (Bốn) năm đến 05 (Năm) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (Một) bao thư niêm phong số: 519/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh B. Bên ngoài bao thư ghi “H1 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 03 (ba) nỏ thuỷ tinh còn lại sau giám định; 01 (Một) chai nhựa có chiều cao 13,5cm; 01 (Một) chai nhựa có chiều cao 21cm; 01 (Một) ống hút có chiều dài 27cm; 01 (Một) ống hút có chiều dài 21cm; 04 (Bốn) hộp quẹt ga.
Các bị cáo Đ, N không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của các bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P; Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Xét thấy lời khai của các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án như: Biên bản vụ việc ngày 29/11/2023; Kết luận giám định số: 519/KL-KTHS ngày 04/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào các ngày 23/11/2023, 24/11/2023, 27/11/2023 và 28/11/2023, tại phòng 105 nhà nghỉ T8, thuộc thôn T, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, các bị cáo Nguyễn Trần Nhật N, Võ Quốc Đ có hành vi góp tiền mua ma túy và các dụng cụ để sử dụng ma túy, đã cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì đến khoảng 11 giờ ngày 29/11/2023 bị lực lượng Công an xã M phối hợp với Công an huyện P kiểm tra phát hiện thu giữ.
Tại kết luận giám định số: 519/KL-KTHS, ngày 04/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Chất rắn màu đen bám dính bên trong đầu phễu của 01 (một) nỏ thủy tinh dài 11,5 cm (ký hiệu A1) gửi giám định là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính ít không đủ xác định khối lượng. Chất rắn màu đen bám dính bên trong đầu phễu bị vỡ và chất rắn màu trắng bám dính bên trong phần ống hình trụ của 01 (một) nỏ thủy tinh dài 12 cm (ký hiệu A3) gửi đi giám định đều là ma túy loại: Methamphetamine, lượng mẫu chất bám dính không đủ để xác định khối lượng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 47/CT-VKS-PM ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự trị an trên địa bàn.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn. Trong đó các bị cáo Đ, N thống nhất cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng; bị cáo Đ là người trực tiếp liên lạc mua ma túy; các bị cáo Đ, N cùng chế tạo dụng cụ sử dụng ma túy và cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.
Về trách nhiệm hình sự: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, khách thể được pháp luật Nhà nước bảo hộ bị xâm phạm, động cơ mục đích phạm tội của các bị cáo, hậu quả nguy hại cho xã hội của các bị cáo thì việc cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc trong cuộc sống; đồng thời để góp phần đấu tranh trong công tác phòng, chống tội phạm hiện nay.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Đ, N tự nguyện khai báo tự thú những lần phạm tội trước; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo N có ông ngoại là liệt sỹ, bà ngoại là thương binh, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Đ, N có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51, nên được áp dụng Điều 54 để xử phạt các bị cáo dưới khung hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Xe mô tô biển kiểm soát 77N2-0605 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện P đã trả lại cho chủ sở hữu xong, nên không xét.
Bao thư niêm phong số 519/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh B. Bên ngoài bao thư ghi “H1 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 03 (ba) nỏ thuỷ tinh còn lại sau giám định), số lượng: 1 khác; chai nhựa có chiều cao 13,5cm, số lượng: 1 chai; chai nhựa có chiều cao 21cm, số lượng: 1 chai; ống hút có chiều dài 27cm, số lượng: 1 cái; ống hút có chiều dài 21cm, số lượng: 1 cái; hộp quẹt ga, số lượng: 4 cái. Đây là những vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và vật không có giá trị, nên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Một điện thoại di động mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu OPPO, số EMEI 86522047899111, gắn sim số 0768490042 và một điện thoại di động mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu IPHONE, số EMEL 356741084493658, gắn sim số 0353303387. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữa để điều tra, xác minh trong vụ án khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các vấn đề khác:
Đối với ông Tạ Nguyễn An T3 là chủ nhà nghỉ T8 nghi vấn các bị cáo N, Đ sử dụng trái phép chất ma túy nên báo cáo cơ quan chức năng kiểm tra và bà Nguyễn Thị T7 là nhân viên lễ tân nhà nghỉ T8 không biết các bị cáo Đ, N sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xử lý là đúng quy định.
Đối với ông Nguyễn Quốc T4 có hành vi sử dụng ma túy của các bị cáo Đ, N vào ngày 27/11/2023 tại phòng 105 của nhà nghỉ T8. T4 tự ý sử dụng, T4 sử dụng một mình và các bị cáo Đ, N không biết, nên không xử lý đối với các bị cáo N, Đ về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với hai 02 trở lên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Đồng thời, Cơ quan Công an huyện P đã xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Quốc T4 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật.
Đối với ông Trần Bá V có hành vi mang dụng cụ có chứa ma túy đến phòng 105 nhà nghỉ T8 nhưng không nhằm mục đích cung cấp cho các bị cáo Đ, N sử dụng. Đồng thời các bị cáo N, Đ không sử dụng dụng cụ và ma túy của ông V, nên không xử lý ông Trần Bá V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và khối lượng ma túy không đủ định lượng xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan Công an huyện P đã xử phạt hành chính đối với ông Trần Bá V về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng quy định.
Đối với hành vi ông Nguyễn Anh K có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và ông Nguyễn Quốc T4, ông Lê Tùng L liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tuy nhiên, lời khai mâu thuẫn nhau, chưa đủ xác định hành vi của ông K, ông L, ông T4 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và người sử dụng Z “Tý chuột” giao ma túy cho bị cáo Đ chưa xác định được địa chỉ. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện P đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu giải quyết theo tin báo khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với ông Trương Văn P có hành vi cho bị cáo Võ Quốc Đ mượn xe mô tô biển kiểm soát 77N2 - 0605 nhưng ông P không biết bị cáo Đ mượn xe làm phương tiện mua ma túy về sử dụng nên không xem xét xử lý đúng quy định.
Đối với bà Nguyễn Thị Thanh T1 là chủ tài khoản bị cáo Đ sử dụng chuyển tiền mua ma túy nhưng tài khoản bị cáo Đ sử dụng. Tuy nhiên, bà T1 không biết nên không xem xét xử lý là đúng quy định.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc các bị cáo Đ, N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án: Về tội danh, điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, đề nghị hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng đều phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Võ Quốc Đ;
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, đối với bị cáo Nguyễn Trần Nhật N;
Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Võ Quốc Đ 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 30/11/2023).
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Nhật N 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 30/11/2023).
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ: Bao thư niêm phong số 519/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh B. Bên ngoài bao thư ghi “H1 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật và 03 (ba) nỏ thuỷ tinh còn lại sau giám định), số lượng: 1 khác; chai nhựa có chiều cao 13,5cm, số lượng: 1 chai; chai nhựa có chiều cao 21cm, số lượng: 1 chai; ống hút có chiều dài 27cm, số lượng: 1 cái; ống hút có chiều dài 21cm, số lượng: 1 cái; hộp quẹt ga, số lượng: 4 cái.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/7/2014, giữa Công an huyện P và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định).
4. Về án phí: Buộc các bị cáo Võ Quốc Đ, Nguyễn Trần Nhật N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND H. Phù Mỹ; - Công an H.Phù Mỹ; - Bị cáo; - Chi cục THADS H.Phù Mỹ; - Lưu VP- HSVA; - THA phạt tù. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bá Tùng |