vanban.org

Bản án 40/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 26/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022. Xử phạt bị cáo Vũ Văn Ng 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2023/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NG VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triệu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Minh và ông Phạm Thiên Viết.

- Thư ký phiên tòa: Bà H’Ra Chen - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 43/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/HSST-QĐ ngày 22 tháng 9 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Th, sinh năm 1982 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 5/12; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Dương Thị Tú V; có vợ là Trần Thị T1và 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2022, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.

2. Vũ Văn Ng, sinh năm 1986 tại thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Vũ Văn H và bà Vũ Thị V1; có vợ là Vũ Thị Nh và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2022, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.

3. Vũ Văn T, sinh năm 1990 tại thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn E29, xã ĐM, huyện ĐS, tỉnh Đắk Nông; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ Đức T2 và bà Nguyễn Thị Th; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 28/12/2022, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị T1, sinh năm 1986 – có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn Đ, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông.

Chị H’H, sinh năm 2000 – vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn N, xã TT, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

- Người làm chứng:

Chị Lộc Thị M, sinh năm 2001 - vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 3, xã Đr, huyện ĐM, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T có mối quan hệ quen biết nhau.

Khoảng 21 giờ ngày 27/12/2022, sau khi nhậu tại thị trấn Đ, huyện ĐM xong, Th, Ng và T rủ nhau đến quán HA, thuộc thôn 2, xã ĐBS, huyện TĐ hát karaoke. Th điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai I10, biển kiểm soát 48A- 065.63 chở Ng và T. Trên đường đi, Ng gọi điện thoại cho Trần Ngọc Tr - chủ quán Karaoke HA để đặt phòng. Khi đến nơi, Th, Ng và T vào hát tại phòng vip 6, đồng thời gọi thêm 02 nhân viên là Lộc Thị M và H’H vào phục vụ. Sau khi hát được khoảng 20 phút thì Th, T và Ng rủ nhau sử dụng ma tuý. Lúc này, T và Ng bàn nhau về việc mua ma túy thì Th nói đã có ma túy rồi nên cả nhóm tiếp tục uống bia và hát. Một lúc sau, Th lấy từ trong người ra 01 gói ma túy, loại Ke (Ketamine) đựng trong gói ziper màu trắng để trên bàn và bảo T: “dằm nhuyễn cái này ra cho anh em chơi”. Đồng thời, Th nói Ng đưa thẻ ATM và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để cuộn tròn thành dạng ống hút. Do không có thẻ ATM nên Ng đưa cho T giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Văn Ng và đưa cho Th 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng để Th cuộn tròn thành dạng ống hút, làm công cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T bỏ hết ma túy từ gói ziper vào đĩa sứ hình vuông có sẵn trong phòng hát và dùng giấy phép lái xe Ng đưa để dằm ma túy ra rồi để trên bàn cho cả nhóm cùng sử dụng. Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng, Vũ Văn T và H’H luân phiên nhau sử dụng ma tuý. Đến 03 giờ ngày 28/12/2022, trong lúc Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng, Vũ Văn T và H’H đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an xã ĐBS và Công an huyện Tuy Đức phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 01 đĩa sứ hình vuông trên bề mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 gói ziper bên trong có chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Vũ Văn Ng. Ngoài ra, thu giữ dưới gầm tủ máy đựng âm ly trong phòng hát 01 đĩa sứ hình tròn trên bề mặt có một ít chất bột màu trắng.

Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 28/12/2022 do cán bộ y tế thuộc Công an huyện Tuy Đức tiến hành xét nghiệm nhanh cho kết quả như sau: Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng, Vũ Văn T và H’H đều dương tính với ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 03 ngày 03/01/2023, của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:

- Chất bột màu trắng dụng trong gói ziper là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,0054 gam.

- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ hình vuông là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,0528 gam.(hoàn lại sau giám định là 0,0342 gam)

- Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ hình tròn là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,1470 gam. (hoàn lại sau giám định là 0,1274 gam)

Tổng khối lượng mẫu vật thu giữ được là 0,2052 gam.

Cáo trạng số 40/CT-VKS-TĐ ngày 16/8/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T về tội:“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố các bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th mức án từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; xử phạt các bị cáo Vũ Văn Ng và Vũ Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,1616 gam ma túy là Ketaminne (hoàn lại sau giám định); 01 dĩa sứ hình vuông; 01 đĩa sứ hình tròn.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 10.000đ.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, biển kiểm soát 48A – 065.63 cho chị Trần Thị T1 và 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho Vũ Văn Ng.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ ngày 27/12/2022 đến 03 giờ sáng ngày 28/12/2022, tại phòng vip 6, quán Karaoke HA thuộc thôn 2, xã ĐBS, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T đã có hành vi cung cấp công cụ, phương tiện và ma túy cho H’H để cả bốn cùng sử dụng dưới hình thức hít thì bị bắt quả tang thu giữ 01 đĩa sứ hình vuông có ma túy bám dính trên bề mặt đĩa với khối lượng là 0,0528 gam, là Ketaminne; 01 gói ziper bên trong có ma túy khối lượng ma túy là 0,0054 gam, là Ketaminne. Tổng khối lượng là 0,0582 gam ma túy, là Ketaminne.

Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phạm tội:“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức là có căn cứ pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Xét thấy, hành vi phạm tội do các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc nhưng do ý thức xem thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, các bị cáo đều có nhân thân tốt.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong vụ án có sự tham gia của nhiều bị cáo với vai trò khác nhau nên cần phân hóa hành vi của các bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Th là người trực tiếp cung cấp ma túy và chỉ đạo cho Vũ Văn Ng chuẩn bị công cụ để dằm, sử dụng ma túy; chỉ đạo Vũ Văn T dằm ma túy để cả nhóm cùng sử dụng. Như vậy, bị cáo có vai trò quan trọng hơn đối với các bị cáo khác nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.

Đối với bị cáo Vũ Văn Ng, Vũ Văn T là người trực tiếp chuẩn bị công cụ, trực tiếp dằm ma túy, vai trò tham gia trong vụ án là như nhau nên cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt ngang nhau là phù hợp.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với H’H là đối tượng sử dụng ma túy cùng Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Tuy Đức để xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với anh Trần Ngọc Tr là chủ quán karaoke HA nơi các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy quá trình điều tra xác định anh Tr không biết việc Th, T và Ng tổ chức sử dụng ma túy trong quán nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã chuyển hồ sơ cho Công an huyện Tuy Đức ra quyết định xử phạt hành chính đối với cơ sở kinh doanh để xảy ra hoạt động sử dụng ma túy và kinh doanh Karaoke ngoài giờ là phù hợp, cần chấp nhận.

Đối với Lộc Thị M quá trình điều tra xác định M chỉ ngồi phục vụ rót bia, bấm bài hát bên cạnh Vũ Văn Ng, không sử dụng ma tuý với lý do vào tối ngày 25/12/2022, M đã từng sử dụng ma túy tổng hợp và bị sốc thuốc, M không biết việc Th, T và Ng tổ chức sử dụng ma túy do lúc đó M đi ra ngoài nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với khối lượng ma túy còn lại sau khi sử dụng (0,0054 gam Ketamine đựng trọng gói ziper và 0,0528 gam Ketamine bám dính trên đĩa hình vuông) khối lượng không đủ định lượng cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức chuyển hồ sơ cho Công an huyện Tuy Đức để ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn Th.

Đối với 0,1470 gam Ketamine bám dính trên đĩa sứ hình tròn thu giữ dưới gầm tủ máy trong phòng hát, quá trình điều tra không xác định được của ai nên tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn Ng 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn T 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 28/12/2022.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 0,1616 gam ma túy là Ketaminne (hoàn lại sau giám định); 01 dĩa sứ hình vuông; 01 đĩa sứ hình tròn.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 10.000đ (mười nghìn đồng).

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện TĐ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TĐ).

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, biển kiểm soát 48A – 065.63 cho chị Trần Thị T1 và 01 giấy phép lái xe hạng B2 cho Vũ Văn Ng.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Th, Vũ Văn Ng và Vũ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ