- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn s tổ chức sử dụng chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Đức V 04 (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2023/HS-PT Ngày: 11/5/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
Các thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và Ông Nguyễn Thái Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn Quang Tiến -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 đối với các bị cáo Bùi Đức V và Nguyễn Văn S, do có kháng cáo của các bị cáo này đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Bùi Đức V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Diêm Bắc 2, phường Đức Ninh Đông, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Thoán (đã chết) và con bà: Hoàng Thị Lưu; sinh năm: 1964; có vợ: Nguyễn Thị Thủy; sinh năm 1993 và 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 25/01/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 26/01/2012 trở về địa phương. Ngày 30/8/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thi hành án tại Trại giam Nghĩa An đến ngày 30/01/2015 ra trại về tại địa phương cho đến ngày phạm tội. Đã thi hành xong các khoản án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
2. Nguyễn Văn S; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1995 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố Diêm Nam, phường Đức Ninh Đông, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh Anh; sinh năm: 1971 và bà: Hoàng Thị Linh; sinh năm: 1974; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Thái An và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng đều không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/9/2022, tại phòng 402 quán Karaoke Thiên Đường II thuộc tổ dân phố 2, phường Đồng Phú, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Quảng Bình kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Bùi Đức V, Hoàng Thái An, Nguyễn Văn S, Bùi Anh Dũng và Đoàn Văn Trang đang có hành vi tổ chức sử dụng và sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ tại phòng 402 gồm: 01 túi nilon trong suốt chứa chất màu trắng dạng tinh thể chưa sử dụng hết cùng một số dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Bùi Đức V, Hoàng Thái An, Nguyễn Văn S, Bùi Anh Dũng và Đoàn Văn Trang ăn uống tại quán Kiều Hưng thuộc phường Đồng Hải. Sau khi ăn uống xong V rủ mọi người qua quán Karaoke Thiên Đường II nghe nhạc và sử dụng ma túy, mọi người đều đồng ý. V, S, An và Dũng đến trước, Trang có việc riêng nên đến sau. Khi đến quán nhân viên phục vụ hỏi đã đặt phòng chưa, V trả lời: “Chưa, cho một phòng nghe nhạc” và được nhân viên phục vụ dẫn lên phòng 402. Sau khi vào phòng, 01 nhân viên phục vụ nam không rõ lý lịch đã đưa 01 đĩa sứ, 02 bật lửa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng bạc để kết nối với hệ thống loa trong phòng rồi mở nhạc. V đưa 1.000.000 đồng và lấy 800.000 đồng từ ví của S đưa cho An để đi mua ma túy. An sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đăng ký tài khoản Zalo “Hoàng Thái An” liên lạc với một người phụ nữ tên Thương có tài khoản Zalo “Tiểu bối” hỏi mua 01 chỉ ma túy dạng Ketamine. An đi bộ đến nhà trọ tầng 3 trên đường Trần Quý Cáp gặp Thương để lấy ma túy với giá 1.100.000 đồng. Sau đó, An quay lại phòng 402 karaoke Thiên Đường II, lúc này Trang đã đến. Quá trình diễn ra sự việc trên Dũng và Trang không có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà chỉ tham gia sử dụng ma tuý. Trong lúc cả 05 người đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1039/KL-KTHS ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine khối lượng 0,614g.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023 ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S, Hoàng Thái An về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý " theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Đức V 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022; Xử phạt bị cáo Hoàng Thái An 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022.
Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 24/02/2023 bị cáo Bùi Đức V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 27/02/2023 bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 402 Karaoke Thiên Đường vào ngày 02/9/2022, trong đó V và S góp tiền, giao cho Hoàng Thái An đi mua ma túy để 5 người sử dụng chung gồm: V, An, S, Dũng và Trang. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết Bùi Đức V, Nguyễn Văn S và Hoàng Thái An phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm tuyên các bị cáo phạm tội theo điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, tham gia tích cực các hoạt động xã hội vì lợi ích cộng đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V trình bày có tham gia phòng chống dịch Covid 19 và cứu hộ cứu nạn lũ lụt, bị cáo S tham gia bắt trộm được Công an tỉnh khen thưởng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộn luật Hình sự. Tuy nhiên, án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử các bị cáo 04 (bốn) năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có phần nhẹ. Vì vậy, mặc dù tại cấp phúc thẩm các bị cáo trình bày có thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BlHS nhưng không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
[3] Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Bùi Đức V 04 (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam, ngày 03/9/2022.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/5/2023).
Nơi nhận
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Bình;
- TAND Thành phố Đồng Hới;
- Công an Thành phố Đồng Hới;
- Chi cục THADS thành phố Đồng Hới;
- Bị cáo có kháng cáo;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh QB;
Từ Thị Hải Dương
- Lưu HS, Tòa HS. TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH QUẢNG BÌNH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bản án số: 40/2023/HS-PT Ngày: 11/5/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương
Các thẩm phán: Ông Dương Viết Hải và Ông Nguyễn Thái Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đoàn Quang Tiến -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 03 năm 2023 đối với các bị cáo Bùi Đức V và Nguyễn Văn S, do có kháng cáo của các bị cáo này đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2023/TLPT-HS ngày 15 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Bùi Đức V; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 3 năm 1993 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn Th (đã chết) và con bà: Hoàng Thị L; sinh năm: 1964; có vợ: Nguyễn Thị Th; sinh năm 1993 và 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án: không; tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 25/01/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đồng Hới ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, thời hạn 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong ngày 26/01/2012 trở về địa phương. Ngày 30/8/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thi hành án tại Trại giam Nghĩa An đến ngày 30/01/2015 ra trại về tại địa phương cho đến ngày phạm tội. Đã thi hành xong các khoản án phí.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
2. Nguyễn Văn S; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1995 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh A; sinh năm: 1971 và bà: Hoàng Thị L; sinh năm: 1974; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/9/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa theo lệnh trích xuất.
Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Hoàng Thái A và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng đều không liên quan đến kháng cáo nên Toà án không triệu tập đến phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 02/9/2022, tại phòng 402 quán Karaoke Thiên Đường II thuộc tổ dân phố 2, phường Đồng Phú, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an tỉnh Quảng Bình kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Bùi Đức V, Hoàng Thái A, Nguyễn Văn S, Bùi Anh D và Đoàn Văn Tr đang có hành vi tổ chức sử dụng và sử dụng trái phép chất ma túy. Thu giữ tại phòng 402 gồm: 01 túi nilon trong suốt chứa chất màu trắng dạng tinh thể chưa sử dụng hết cùng một số dụng cụ liên quan đến việc sử dụng ma túy.
Quá trình điều tra các đối tượng khai nhận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 02/9/2022, Bùi Đức V, Hoàng Thái A, Nguyễn Văn S, Bùi Anh D và Đoàn Văn Tr ăn uống tại quán Kiều Hưng thuộc phường Đồng Hải. Sau khi ăn uống xong V rủ mọi người qua quán Karaoke Thiên Đường II nghe nhạc và sử dụng ma túy, mọi người đều đồng ý. V, S, An và D đến trước, Tr có việc riêng nên đến sau. Khi đến quán nhân viên phục vụ hỏi đã đặt phòng chưa, V trả lời: “Chưa, cho một phòng nghe nhạc” và được nhân viên phục vụ dẫn lên phòng 402. Sau khi vào phòng, 01 nhân viên phục vụ nam không rõ lý lịch đã đưa 01 đĩa sứ, 02 bật lửa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE màu trắng bạc để kết nối với hệ thống loa trong phòng rồi mở nhạc. V đưa 1.000.000 đồng và lấy 800.000 đồng từ ví của S đưa cho A để đi mua ma túy. A sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, đăng ký tài khoản Zalo “Hoàng Thái A” liên lạc với một người phụ nữ tên Th có tài khoản Zalo “Tiểu bối” hỏi mua 01 chỉ ma túy dạng Ketamine. An đi bộ đến nhà trọ tầng 3 trên đường Trần Quý Cáp gặp Th để lấy ma túy với giá 1.100.000 đồng. Sau đó, A quay lại phòng 402 karaoke Thiên Đường II, lúc này Tr đã đến. Quá trình diễn ra sự việc trên D và Tr không có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý mà chỉ tham gia sử dụng ma tuý. Trong lúc cả 05 người đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 1039/KL-KTHS ngày 09/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine khối lượng 0,614g.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023 ngày 15/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S, Hoàng Thái A về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý " theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Bùi Đức V 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022; Xử phạt bị cáo Hoàng Thái A 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022.
Án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 24/02/2023 bị cáo Bùi Đức V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 27/02/2023 bị cáo Nguyễn Văn S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 402 Karaoke Thiên Đường vào ngày 02/9/2022, trong đó V và S góp tiền, giao cho Hoàng Thái A đi mua ma túy để 5 người sử dụng chung gồm: V, An, S, D và Tr. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết Bùi Đức V, Nguyễn Văn S và Hoàng Thái A phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm tuyên các bị cáo phạm tội theo điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, tham gia tích cực các hoạt động xã hội vì lợi ích cộng đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo V trình bày có tham gia phòng chống dịch Covid 19 và cứu hộ cứu nạn lũ lụt, bị cáo S tham gia bắt trộm được Công an tỉnh khen thưởng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộn luật Hình sự. Tuy nhiên, án sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử các bị cáo 04 (bốn) năm tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có phần nhẹ. Vì vậy, mặc dù tại cấp phúc thẩm các bị cáo trình bày có thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BlHS nhưng không có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.
[3] Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:
+ Xử phạt bị cáo Bùi Đức V 04 (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 03/9/2022
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam, ngày 03/9/2022.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Buộc các bị cáo Bùi Đức V, Nguyễn Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (11/5/2023).
| Nơi nhận - Vụ giám đốc kiểm tra 1 TANDTC; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - TAND Thành phố Đồng Hới; - Công an Thành phố Đồng Hới; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - Bị cáo có kháng cáo; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh QB; - Lưu HS, Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Từ Thị Hải Dương |