vanban.org

Bản án 40/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Cao Bằng Tuyên án 28/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Bị cáo Đinh Văn H 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 26-4-2019. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HS-ST
Ngày: 28-8-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Ương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Đức Tôn.

Ông Vũ Bá Phương.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Duy Phong, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Trần Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2019/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 340/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Đinh Văn H - Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 01 năm 1987 tại: Thành phố N, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ 15, phường C, Thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12 phổ thông; Con ông: Đinh Văn M (Đã chết) và bà Nguyễn Thị A (Đã chết); Có vợ: Nguyễn Thị M - sinh năm 1987 và có 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26-4-2019 đến nay, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty cổ phần phát triển thương mại và vận tải B. Có ông Nguyễn Tiến Đ - Sinh năm 1990 (Giám đốc công ty - Đại diện). Địa chỉ: Tổ 20, phường E, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Phạm Văn N - Sinh năm 1990; trú tại: Tổ 14, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi hồi 19h 50 ngày 26-4-2019 trên đoạn đường QL3 Cao Bằng - Hà Nội (thuộc tổ 7, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Tổ công tác của Phòng Cảnh sát môi trường (PC05) phối hợp cùng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành dừng, kiểm tra xe ô tô đầu kéo BKS 20C-098.xx kéo theo rơ moóc BKS 20R-005xx chở than cốc, do Đinh Văn H - sinh năm 1987 (trú tại tổ 15, phường E, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển. Quá trình kiểm tra đã phát hiện trên ca bin đầu kéo có chở 170 hộp pháo in chữ Trung Quốc có trọng lượng 246 kg. Toàn bộ số pháo trên, H thừa nhận được mua ở bên Trung Quốc, mục đích của H đem về để bán kiếm lời. Trên đường vận chuyển thì bị phát hiện và bắt quả tang. Ngày 27-4-2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số 45/PC01 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Lạng Sơn giám định các mẫu vật gửi giám định. Tại bản kết luận giám định số 105/KL-PC09 ngày 28-4-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Các mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của Pháo nổ (Có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây ra tiếng nổ)”. Quá trình mở rộng điều tra đã xác định: Đinh Văn H là lái xe của Công ty cổ phần phát triển và vận tải B có trụ sở tại tổ 20, phường E, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Ngày 24-4-2019, H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 20C-098.xx sơ mi kéo moóc BKS 20R-005.xx chở hàng từ công ty lên giao hàng cho nhà máy gang thép Cao Bằng. Ngày 25-4-2019 sau khi giao hàng xong, H tiếp tục điều khiển xe qua cửa khẩu L, sang Trung Quốc, nhận than cốc theo lệnh của Công ty. Đến khoảng 15h cùng ngày, H điều khiển xe vào bãi tập kết bên Trung Quốc sau đó đi bộ về cửa khẩu Tà Lùng, vào nhà nghỉ để đợi bốc hàng than cốc lên xe. Đến 10h ngày 26-4-2019 thì bốc hàng xong, H đi bộ sang Trung Quốc, để lái xe chở than về Việt Nam. Trên đường về Việt Nam thì H có dừng xe, vào một cửa hàng tạp hóa tại chợ bên Trung Quốc, mua nước uống, thấy cửa hàng có bán pháo. H chỉ tay vào hộp pháo hoa và ra ký hiệu hỏi bao nhiêu tiền, ông chủ của hàng lấy máy tính ra tính để chuyển sang tiền Việt Nam và cho H biết mỗi hộp pháo là 105.000,đ (Một trăm linh năm nghìn đồng). H giơ chín ngón tay ra hiệu bảo muốn mua 09 thùng pháo, mỗi thùng có giá là 1.750.000,đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó H có mua thêm 02 hộp pháo loại to với giá 450.000,đ/hộp (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền H mua pháo là 16.650.000,đ (Mười sáu triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi trả đủ tiền cho chủ quán thì H cùng ông chủ cửa hàng bốc số pháo lên ca bin xe đầu kéo cất giấu.

Làm thủ tục thông quan bên Trung Quốc xong, H lái xe về hướng cửa khẩu L - Cao Bằng. Khoảng 15h 30’- 16h cùng ngày, H lái xe qua Trạm liên hợp cửa khẩu L - Cao Bằng, có các lực lượng chức năng kiểm tra, tuy nhiên không phát hiện gì, H điều khiển xe vào khu vực chờ thông quan, để anh Phạm Văn N - SN 1990 (trú tại: Tổ 14, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) là kế toán của công ty vào làm các thủ tục thông quan. Sau khi làm các thủ tục thông quan xong, N đi về đèo P lấy đồ đạc cá nhân và đợi H ở đó, để cùng về Thái Nguyên. Khi N lên ca bin xe thì phát hiện thấy ở giữa ghế lái và ghế phụ có nhiều hộp cát tông được bọc bằng túi nilon, nên có hỏi H là: “Anh chở hàng gì cồng kềnh thế ?” H trả lời: “Anh chở ít hàng ở cửa khẩu về”. Do không quan tâm, nên N cũng không hỏi gì thêm. H tiếp tục điều khiển xe, khi đến đoạn đường thuộc tổ 7, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, thì bị tổ công tác liên ngành kiểm tra, phát hiện số pháo trên và tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, đồng thời đưa người, tang vật cùng phương tiện về Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng để giải quyết.

Hành vi nêu trên của Đinh Văn H bị Cơ Cảnh sát điều tra Công an tỉnh lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội: “buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tại bản cáo trạng số: 31/CTr-VKSCB-P2 ngày 12-7-2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Đinh Văn H về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, bị cáo Đinh Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Tại phiên tòa người làm chứng Phạm Văn N khai: Tôi là kế toán của Công ty cổ phần phát triển thương mại và vận tải B, còn anh H là lái xe của công ty. Ngày 26-4-2019 tôi có được vào cửa khẩu L làm các thủ tục thông quan cho xe của anh H sang Trung Quốc lấy quặng cho công ty. Sau đó, tôi về đèo P lấy đồ đạc cá nhân và đợi H ở đó để cùng về Thái Nguyên. Khi xe đến đoạn đường thuộc tổ 7, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, thì công an phát hiện số pháo của anh H để trên ca bin xe và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với anh H. Tôi không biết và không liên quan đến việc H mua bán pháo. Khi công an lập biên bản, cân trọng lượng pháo là 246 kg. Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội. Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội: “Buôn bán hàng cấm”. Sau khi phân tích tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn H từ 08 năm đến 09 năm tù. Về vật chứng: Đề nghị xử tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số pháo, là vật chứng vụ án. Những vật chứng còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội, cần hoàn trả lại cho bị cáo. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Đinh Văn H không có lời bào chữa, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo Đinh Văn H và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo Đinh Văn H hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, do tổ công tác liên ngành (Phòng Cảnh sát môi trường (PC05) phối hợp cùng phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Cao Bằng) lập hồi 19 giờ 50’ ngày 26-4-2019 (tại tổ 7, phường S, thành phố Cao Bằng) đối với Đinh Văn H; Biên bản cân xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong tang vật hồi 23 giờ 45 phút ngày 26-4-2019 đối với vật chứng bắt quả tang của Đinh Văn H; Kết luận giám định số: 105/KL-PC09 ngày 28-4-2019 của phòng kỹ thuật hình sự, công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: “Các mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của Pháo nổ (Có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây ra tiếng nổ)”. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa còn phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Đinh Văn H là lái xe của Công ty cổ phần phát triển và vận tải B Ngày 24-4-2019 bị cáo H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 20C-098.xx và kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 20R-005.xx giao hàng cho nhà máy gang thép Cao Bằng, sau đó qua cửa khẩu L, sang nhận hàng than cốc ở bên Trung Quốc theo hợp đồng của Công ty. Sau khi bốc hàng xong, trước khi về nước, bị cáo H đã mua 170 hộp pháo, có trọng lượng 246 kg tại một cửa hàng tạp hóa ở chợ bên Trung Quốc, mục đích mua pháo về bán nhằm kiếm lời. Trên đường vận chuyển về thành phố T, tỉnh Thái Nguyên thì bị phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Đinh Văn H là rất nghiêm trọng, buôn bán hàng cấm với khối lượng rất lớn, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý một số loại hàng hoá cấm kinh doanh, buôn bán. Do việc kinh doanh loại hàng hoá này gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đến sức khoẻ con người. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích phạm tội là nhằm kiếm lời. Hành vi đó đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự, với tình tiết định khung “Pháo nổ 120 ki lô gam trở lên”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Đinh Văn H về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật. [3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đinh Văn H có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Tại địa phương nơi bị cáo sinh sống, bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Do hoàn cảnh của bị cáo quá khó khăn, bố mẹ đều đã mất, vợ làm ruộng tại quê, có 02 con còn quá nhỏ, bị cáo phạm tội do hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn (Có xác nhận của chính quyền địa phương). Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Không có tình tiết tăng nặng. Mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, có căn cứ pháp luật cần chấp nhận. [4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Hội đồng xét xử thấy điều kiện kinh tế của bị cáo quá khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về xử lý vật chứng:

- Số vật chứng gửi tại kho công an tỉnh Cao Bằng gồm: 13 (mười ba) thùng cát tông đựng pháo đã niêm phong, tổng trọng lượng 231,5kg, là hàng cấm, cần tịch thu tiêu hủy.

- Số vật chứng còn lại gồm: 01 (Một) điện thoại di động màu vàng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEL: 3553560810584xx, đã qua sử dụng; 01(Một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, số IMEL: 3556840486344xx, đã qua sử dụng, không kiểm tra được, đã niêm phong; 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Đinh Văn H; 01 (một) chứng minh thư nhân dân mang tên Đinh Văn H. Không liên quan đến tội phạm cần trả lại bị cáo. Đối với xe ô tô đầu kéo có BKS 20C-098.xx và sơ mi rơ moóc có BKS 20R-005.xx của Công ty cổ phần phát triển thương mại và vận tải B không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Đinh Văn H, nên ngày 14-5-2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử lý vật chứng là trả lại xe ô tô đầu kéo BKS 20C-098.xx và sơ mi rơ moóc BKS 20R-005.xx cùng các giấy tờ liên quan đến phương tiện cho ông Nguyễn Tiến Đ - Giám đốc Công ty cổ phần phát triển thương mại và vận tải B (đại diện Công ty). Theo biên bản giao, nhận vật chứng hồi 17 giờ 00’ ngày 14-5-2019.

Về án phí: Bị cáo Đinh Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt:

+ Bị cáo Đinh Văn H 08 (Tám) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 26-4-2019.

2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu huỷ 13 (mười ba) thùng cát tông đựng pháo đã niêm phong, tổng trọng lượng 231kg,

+ Trả lại cho bị cáo Đinh Văn H số vật chứng gồm:

- 01 (Một) điện thoại di động màu váng, nhãn hiệu IPHONE, số IMEL: 3553560810584xx, đã qua sử dụng;

- 01(Một) điện thoại di động màu đen, nhãn hiệu OPPO, số IMEL: 3556840486344xx, đã qua sử dụng, không kiểm tra được, đã niêm phong;

- 01 (Một) giấy phép lái xe hạng FC, mang tên Đinh Văn H;

- 01 (Một) chứng minh thư nhân dân mang tên Đinh Văn H.

Xác nhận toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 50 ngày 25-7-2019.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Đinh Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, số tiền là 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn H có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm, phần trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được trích sao bản án./.

Cỡ chữ