- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Công C phạm tội " Ga bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Công C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B về phần hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự xử phạt
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| 1. TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 40/2018/HS-PT Ngày: 28 - 12 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tô Văn Thịnh
Các thẩm phán: Bà Bùi Thị Thảo
Ông Mai Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Ninh Thị Thanh Phương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/2018/TLPT - HS ngày 5 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Đinh Công C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Bị cáo có kháng cáo:
Đinh Công C, sinh năm 1982; tại xã T, huyện G, tỉnh B; cư trú tại: Thôn K, xã T, huyện G, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn M và bà Trần Thị D; có vợ Nguyễn Thị L và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 11/2018/HSST ngày 20/03/2018, Toà án nhân dân huyện G, tỉnh B xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”; đã chấp hành xong bản án ngày 05/07/2018. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa. Ngoài ra còn có các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị (Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 02/7/2018, Nguyễn Văn T, Nguyễn Quang H; Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Trần Văn B, Bùi Đức L đều đi xe mô tô đến nhà Đinh Công C ở thôn K, xã T, huyện G để chơi bi - a. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn T rủ T1, T2 đánh bạc bằng hình thức “đánh liêng” được thua bằng tiền. T lấy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, cùng với T1, T2, Hiện ngồi xuống chiếu đã trải sẵn ở góc sân nhà C đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Thống nhất mức chơi mỗi ván thấp nhất là 10.000 đồng/người/ván, mức cao nhất là 200.000 đồng/ván. Khoảng 21 giờ 15 phút, Bùi Đức L và Trần Văn B ngồi tham gia “Đánh bạc” cùng với T, T1, T2 và H. Khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Quốc V và Đào Anh V1 đến và cùng ngồi tham gia đánh bạc. Trong khi T, T1, T2, H, L, B, V và Đào Anh V1 đang đánh bạc thì Đinh Công C nói những người đang đánh bạc ở nhà mình nộp 20.000 đồng, tất cả đều đồng ý. C thu của T, T1, T2, H, L, B, V và Đào Anh V1 mỗi người 20.000 đồng, do B đang thua bạc nên chưa nộp 20.000 đồng cho C. Sau khi thu được số tiền 140.000 đồng, C đưa số tiền này cho chị Nguyễn Thị L. Khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, trong khi T, T1, T2, H, L, B, V và Đào Anh V1 đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã T tuần tra, phát hiện, lợi dụng sơ hở Nguyễn Văn T1, Trần Văn T2, Trần Văn B, Đào Anh V bỏ chạy; Nguyễn Văn T1 cầm 50.000 đồng ở dưới chiếu bạc cho vào túi quần, trên tay cầm 90.000 đồng và 01 ví giả da màu nâu bên trong có 5.000.000 đồng nhảy xuống ao nhà C.
Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 50.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu cói; thu ở sân nhà C số tiền 110.000 đồng, thu ở dưới ao nhà C số tiền 90.000 đồng, 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn T1 và 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 5.000.000 đồng. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn T1 50.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone 6, 01 điện thoại di động Itel, 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1-0848; của Bùi Đức L số tiền 140.000 đồng, 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1-536.16, 01 điện thoại di động Iphone 5 và 01 điện thoại di động Nokia 1280; của Trần Quốc V số tiền 270.000 đồng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 35N7-2847; của Trần Văn B 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1-623.60; của Nguyễn Văn Tuân 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1 - 269.64; của Đào Anh V1 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1 - 854.25; của Trần Văn T1 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1-977.01; của Đinh Công C số tiền 1.220.000 đồng. Trần Văn T1 đã tự nguyện giao nộp số tiền 90.000 đồng, Nguyễn Thị L tự nguyện giao nộp số tiền là 140.000 đồng. Đến 14 giờ ngày 03/7/2018 thì Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Trần Văn B, Đào Anh V đã đến Công an huyện G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả điều tra xác định số tiền Nguyễn Văn T, Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang H, Bùi Đức L, Trần Văn B, Trần Quốc V và Đào Anh V1 sử dụng vào việc đánh bạc ngày 02/7/2018 là 940.000 đồng (gồm: Số tiền 50.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc, số tiền 110.000 đồng thu ở sân nhà Chắn, số tiền 90.000 đồng thu ở dưới ao nhà C, Nguyễn Văn T2 50.000 đồng, Bùi Đức L số tiền 140.000 đồng, Trần Quốc V số tiền 270.000 đồng, Trần Văn T1 số tiền 90.000 đồng và Nguyễn Thị L số tiền là 140.000 đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Đinh Công C phạm tội “Gá bạc”; các bị cáo Bùi Đức Long, Đào Anh Văn phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Đinh Công C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm xử phạt các bị cáo Bùi Đức L, Đào Anh V1 mỗi bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ và xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp, về án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/10/2018, bị cáo Đinh Công C có đơn kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ mức hình phạt và xin được hưởng án treo với lý do: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình; mặt khác bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ già bản thân phải nuôi 3 con nhỏ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đinh Công C vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tại phiên tòa phúc thẩm xác định về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Công C làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm. Sau khi phân tích vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và yêu cầu kháng cáo của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Công C; giữ quyết định của bản án sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình về mức hình phạt. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đinh Công C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gá bạc” , thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Đinh Công C xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức đơn kháng cáo của bị cáo Đinh Công C làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Công C thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong cùng vụ án và lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, lời khai của làm chứng. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận khoảng 21 giờ ngày 02/7/2018 Nguyễn Văn T đã rủ Trần Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Quang H, đánh bài ăn tiền bằng hình thức đánh liêng tại nhà Đinh Công C. Sau đó có Bùi Đức L, Trần Văn B, Trần Quốc V và Đào Anh V1 đến và cùng ngồi tham gia đánh bài. Trong khi các bị cáo trên đang đánh bài thì Đinh Công C nói mỗi người nộp 20.000 đồng, tất cả đều đồng ý. C thu tiền của T, T1, T2, H, L, B, Trần Quốc V và Đào Anh V1 mỗi người 20.000 đồng, do B đang thua bạc nên chưa nộp 20.000 đồng cho C. Sau khi thu được số tiền 140.000 đồng, C đưa số tiền này cho vợ là Nguyễn Thị L. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày, khi T, T1, T2, H, L, B, Trần Quốc V và Đào Anh V đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an huyện G phối hợp với Công an xã T tuần tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc là 940.000 đồng (trong đó: Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 50.000 đồng, số tiền 110.000 đồng thu ở sân nhà C, số tiền 90.000 đồng thu ở dưới ao nhà C, Nguyễn Văn T2 50.000 đồng, Bùi Đức L số tiền 140.000 đồng, Trần Quốc V số tiền 270.000 đồng, Trần Văn T1 số tiền 90.000 đồng và Nguyễn Thị L số tiền là 140.000 đồng). Bị cáo là người có tiền án về tội đánh bạc theo Bản án số 11/2018/HSST ngày 20/03/2018 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh B, chưa được xóa án tích nay lại dùng nhà của mình cho các bị cáo khác đánh bạc để thu lời bất chính số tiền 140.000 đồng, hành vi của bị cáo Đinh Công C đã phạm tội “Gá bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xem xét kháng cáo của bị cáo Đinh Công C thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo là người có tiền án về tội đánh bạc theo Bản án số 11/2018/HSST ngày 20/03/2018, Toà án nhân dân huyện G, tỉnh B đã xử phạt bị cáo 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội mới. Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B đã căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng mức hình phạt khởi điểm để xử phạt bị cáo Đinh Công C 1 năm tù là đúng với các quy định của pháp luật, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đinh Công C không đưa ra được căn cứ nào mới để xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, vì vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Đinh Công C là không có căn cứ pháp luật để chấp nhận. Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện G về phần hình phạt đã tuyên đối với bị cáo.
Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đinh Công C không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đinh Công C, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2018/HS-ST ngày 16/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh B về phần hình phạt.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Đinh Công C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gá bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Đinh Công C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/12/2018./.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao (01bản); - VKSND Cấp cao (01 bản); - KTGĐ (02bản); - VKSND tỉnh Ninh Bình (03bản); - Phòng HSNV – Công an NB (01bản); - Tòa nhân dân huyện G (03 bản); - VKSND huyện G (01bản); - Chi cục THA- huyện G (01bản); - Công an huyện G (01bản); - Bị cáo (01bản); - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (01 bản); - Lưu phòng HCTP (01bản); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM / HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Tô Văn Thịnh |