- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị T, bị đơn Trần Hoài V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Trần Hoài V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG —————————— Bản án số: 40 /2018/HNGĐ-ST Ngày 24/4/2018 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Ngọc và ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung-Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2018/TLST-HNGĐ ngày 03/01/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 29/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2018/QĐST – HNGĐ ngày 26/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2018/QĐST –HNGĐ ngày 12/4/2018 giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1996; thƣờng trú: Ấp Q xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Hoài V, sinh năm 1991; thƣờng trú: Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2017, quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
- Về hôn nhân: Chị T và anh Trần Hoài V tìm hiểu yêu thƣơng nhau khoảng 03 năm thì tiến đến hôn nhân, cả hai tổ chức đám cƣới và đƣợc gia đình hai bên chấp nhận, chị T và anh V đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang ngày 07/9/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 162/2015, quyển số 01/2015). Sau khi kết hôn, vợ chồng đến thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng làm công nhân sau đó chị T về An Giang sinh con.
Tháng 11/2017 chị T lên thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng làm công nhân tại Công ty TNHH Scancom Việt Nam, thu nhập bình quân 01 tháng 6.000.000 đồng, anh V đi làm thu nhập 01 tháng bao nhiêu chị không biết, cũng từ thời gian này vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V có quan hệ tình cảm với ngƣời phụ nữ khác cùng công ty, thể hiện việc anh thƣờng xuyên nhắn tin thể hiện tình cảm yêu thƣơng với ngƣời phụ nữ này, chị đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhƣng anh V không thay đổi mà còn ghen tuông vô cớ với chị, đe dọa đánh chị, cuối năm 2017 vợ chồng sống ly thân không quan tâm chăm sóc nhau. Từ khi vợ chồng mâu thuẫn, ly thân gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhiều lần nhƣng không thành. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu đƣợc ly hôn với anh Trần Hoài V.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thiên Đ, sinh ngày 06/5/2016, hiện cháu Đ do chị nuôi dƣỡng. Sau ly hôn chị yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu Đ và không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 17/01/2018, quá trình tố tụng bị đơn anh Trần Hoài V trình bày:
- Về hôn nhân: Anh V và chị Nguyễn Thị T tự tìm hiểu thời gian 03 năm thì tiến đến hôn nhân, cả hai tổ chức đám cƣới và đƣợc hai bên gia đình chấp nhận, vợ chồng làm đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang ngày 07/9/2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 162/2015, quyển số 01/2015). Sau khi kết hôn, vợ chồng đến thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thuê ở trọ làm công nhân, sau đó chị T về nhà cha mẹ ruột sinh con, tháng 11/2017 chị T lên thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đi làm, thời gian này vợ chồng chung sống hạnh phúc, thỉnh thoảng có mâu thuẫn về tiền bạc, chi tiêu trong gia đình, không đến mức phải ly hôn. Anh còn yêu thƣơng vợ, con nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T, trong trƣờng hợp tòa án giải quyết cho ly hôn anh có nguyện vọng đƣợc nuôi con chung, anh không yêu cầu chị T phải cấp dƣỡng nuôi con chung.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Trần Thiên Đ, sinh ngày 06/5/2016, hiện chị T đang nuôi dƣỡng và ở cùng mẹ chị T. Trong trƣờng hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn, anh yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu chị T cấp dƣỡng nuôi con.
Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh V do Tòa án tiến hành ngày 14/3/2018, chính quyền địa phƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: Chị T và anh V trƣớc khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án chị T không yêu cầu chính quyền địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung nhƣ thế nào chính quyền địa phƣơng không nắm rõ vì không thấy đại diện khu phố, địa phƣơng phản ánh hay cung cấp thông tin gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các quy định pháp luật liên quan.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn và đƣợc nuôi con của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc công bố tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu giải quyết việc hôn nhân, con chung giữa chị với anh Trần Hoài V địa chỉ tạm trú tại khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Trần Hoài V đƣợc tòa triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt chị T, anh V theo luật định.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Hoài V có chứng nhận kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 162/2015, quyển số 01/2015 vào ngày 07/9/2015 tại UBND xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Do vậy, hôn nhân giữa chị T, anh V hợp pháp đƣợc pháp luật công nhận.
Về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T : Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc; để đạt đƣợc mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Trong cuộc sống vợ chồng anh V không quan tâm, không chăm lo cho gia đình thể hiện ở việc không phụ giúp chị T trong vấn đề chăm sóc con mà có quan hệ tình cảm với ngƣời phụ nữ khác nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau. Chị T và anh V ly thân từ cuối năm 2017 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau và không còn cùng nhau chăm sóc con chung. Hội đồng xét xử nhận thấy mặc dù anh Trần Hoài V không đồng ý ly hôn nhƣng bản thân anh V không thay đổi để vợ chồng hàn gắn tình cảm điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh V đã trầm trọng, không thể khắc phục đƣợc. Vì vậy, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt đƣợc nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị T, anh V có 01 con chung tên Trần Thiên Đ, sinh ngày 06/5/2016. Cả hai đều có nguyện vọng đƣợc nuôi con chung sau khi ly hôn. Tuy nhiên, việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dƣỡng cần phải xem xét về mọi mặt, quyền lợi của con chƣa thành niên. Xét thấy cháu Trần Thiên Đ còn nhỏ (dƣới 03 tuổi) cần sự chăm sóc trực tiếp của ngƣời mẹ nên việc giao con chung cho chị T nuôi dƣỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh V cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Đối với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đối với yêu cầu khởi kiện của chị T là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 235, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 15, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T đối với anh Trần Hoài V.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T đƣợc ly hôn với anh Trần Hoài V (theo giấy chứng nhận kết hôn số 162/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 07/9/2015).
1.2 Tiếp tục giao con chung tên Trần Thiên Đ, sinh ngày 06 tháng 5 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng.
Sau khi ly hôn chị T và anh V đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Chị T phải tạo điều kiện cho anh V trong việc thăm nom, chăm sóc con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.
2.2. Anh Trần Hoài V tạm thời không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung cho chị Nguyễn Thị T.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Hoài V không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0018712 ngày 28 tháng 12 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đƣơng sự (2); - VKSND thị xã Dĩ An (1); - CC THADS thị xã Dĩ An (1); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (1); - UBND xã Mỹ Phú, h Châu Phú, t An Giang (1); - Lƣu: VT, hồ sơ vụ án (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Linh |