- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 393/2020/HSPT Ngày: 14/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Phan Nguyên Nguyên
Các"Thẩm"phán:""""
1. Ông Lê Công Huân
2. Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
"-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng– Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-Đại diện Viện kiểm sát Nhân dânThành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:" Ông Nguyễn H Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 251/HSPT ngày 19/6/2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 07/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị"cáo"có"kháng"cáo:"
Nguyễn Văn A, sinh năm 1987 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Ấp 4, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 05/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Nguyễn Thị H; Vợ, con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2019 (có mặt).
Người"bào"chữa:
Ông Phạm Văn K – Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn A.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20h50 ngày 10 tháng 11 năm 2019, tổ tuần tra Công an xã P, huyện N kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Văn A đang điều khiển xe mô tô biển số 52Z7-0283 tại trước cổng dự án Park Vista thuộc tổ 20, ấp 3, xã P, huyện N. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải, phía trước của A đang mặc có một hộp nhãn hiệu DOUBLE MINT màu xanh lá, bên trong có 18 gói ny lon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể không màu (A khai nhận là ma túy tổng hợp của A mua để sử dụng) và 01 ống thủy tinh dùng để sử dụng ma túy nên Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa đối tượng về trụ sở Công an để điều tra làm rõ.
- Theo Kết luận giám định số 2073/KLGĐ-H ngày 18 tháng 11 năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
“..Tinh"thể"không"màu"trong"18"gói"nylon"được"niêm"phong"bên"ngoài"có" chữ"ký"ghi"tên"Nguyễn"Văn"A"và"hình"dấu"Công"an"xã"P,"huyện"N"(m)"có"khối" lượng"9,1556"gam,"là"ma"túy"ở"thể"rắn,"loại"Methamphetamine”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, A khai nhận: Ngày 01 tháng 11 năm 2019, A điều khiển xe mô tô biển số 52Z7-0283 đến ngã tư đường L và đường N thuộc khu phố 1, phường T, quận B, gặp một người đàn ông tên H (không rõ địa chỉ lai lịch) để mua gói ma túy tổng hợp với giá tiền 1.700.000 đồng để sử dụng, sau đó, H đưa cho A 01 hộp nhãn hiệu DOUBLE MINT màu xanh lá, bên trong có 20 gói nylon được hàn kín bên trong có chứa tinh thể không màu. Sau khi mua được ma túy, từ ngày 01 tháng 11 đến ngày 10 tháng 11 năm 2019, A lấy 02 gói ra sử dụng tại các khách sạn (không rõ địa chỉ) thuộc khu vực đường S, xã U, huyện C, số ma túy còn lại A bỏ vào hộp DOUBLE MINT cất giữ cùng ống thủy tinh sử dụng ma túy. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 52Z7-0283 đến huyện N tìm bạn thì bị Công an kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang như trên
Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện N đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 10/11/2019.
Ngày 11 tháng 5 năm 2020, bị cáo Nguyễn Văn A có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo A giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, có căn cứ xác định: bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn A là đúng người, đúng tội cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn A không có thêm tình tiết nào để giảm nhẹ hơn. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo A giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng:
Luật sư đồng ý với việc truy tố và xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn A. Tuy nhiên cũng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh của bị cáo, trình độ văn hóa thấp kém, cha mất sớm. Bản thân hiện đang mắc bệnh. Bị cáo phạm tội với khối lượng ma túy không lớn chưa gây tác hại cho xã hội. Do vậy kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
- Bị cáo A không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Với hành vi phạm tội như trên của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã đã áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xét xử bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ mức hình phạt. Đơn kháng cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Xét, mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo A không đưa ra được thêm tình tiết nào để giảm nhẹ hơn. Do vậy chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo A giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp và đúng pháp luật.
Về án phí:
- Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 .
Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2020/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ 10/11/2019.
Bị cáo Nguyễn Văn A phải nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ (hai trăm nghìn) đồng .
Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND Cấp Cao tại TP.HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND huyện N (1) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - Sở Tư pháp (1) - THA huyện N (2) - TAND huyện N (2) - Công an huyện N (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (2) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (26) (4) " | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Nguyên Nguyên |