vanban.org

Bản án 391/2021/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 23/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của đại diện gia đình bị hại; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn K.

Chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng trách nhiệm dân sự của đại diện gia đình bị hại; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên về phần trách nhiệm dân sự. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn K - Hiếp dâm người dưới 16 tuổi - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của đại diện gia đình bị hại; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 142 Bộ luật Hình sự; Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 391/2021/HS-PT
Ngày: 23/9/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường;

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Ông Nguyễn Tất Nam.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 23 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1069/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Phạm Văn K do có kháng cáo của người đại diện hợp pháp của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

* Bị cáo bị kháng cáo:

Phạm Văn K, sinh năm 1987 tại xã TL, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 2 Thủy Trầm (nay là khu Cộng Hòa), xã TL, huyện CK, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Nguyễn Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2008, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm tù về tội “Vận chuyển tiền giả”, đến ngày 31/8/2010 được đặc xá về địa phương sinh sống; bị bắt tạm giữ từ ngày 08/4/2020 đến ngày 16/4/2020 chuyển tạm giam; có mặt.

* Người bào chữa do Tòa án chỉ định cho bị cáo: Ông Lê Đình T1 – Luật sư Văn phòng Công Lý thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Điện Biên; có mặt.

* Người bị hại: Cháu Lò Thị Thủy T, sinh năm 2010; địa chỉ: Bản Khá, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.

* Người đại diện hợp pháp của người bị hại có kháng cáo: Ông Lò Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ: Bản Khá, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 08/4/2020, Phạm Văn K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19M1-143.56 đến nhà ông Lò Văn Ơ, sinh năm 1959 ở bản Khá, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên để đòi nợ tiền cá giống. Tại nhà ông Ơ, K đi ra nhà tắm để rửa chân thì thấy cháu Lò Thị Thủy T, sinh ngày 02/3/2010 là cháu nội ông Ơ đang đứng tắm. Lợi dụng thời điểm tại nhà ông Ơ khi đó có cháu Lò Xuân Q là cháu ông Ơ đang ngồi chơi ở bàn uống nước trên gian thứ 3 của sàn nhà, còn ông Ơ đang đi mua đồ ăn, nhằm thỏa mãn dục vọng của bản thân K đã 02 lần xâm hại tình dục đối với cháu Lò Thị Thủy T, cụ thể:

Vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 08/4/2020, tại nhà tắm của gia đình ông Ơ, K đứng đằng sau hơi chếch sang phía bên phải người T, với tư thế khom người, K dùng hai tay xoa dầu gội lên đầu, cổ và toàn thân cháu T, khi xoa đến bộ phận sinh dục của cháu T, K dùng bàn tay phải vuốt lên vuốt xuống bên ngoài bộ phận sinh dục ba lần, sau đó dùng ngón giữa của bàn tay phải xâm nhập vào trong âm hộ khoảng một đốt ngón tay, cháu T kêu lên “Á đau”, K liền rút ngón tay ra rồi đi lên nhà chơi game với cháu Q.

Cách khoảng 10 phút sau khi K xâm hại tình dục lần 1 đối với cháu T, sau khi T tắm xong lên nhà tìm quần mặc, K liền đi theo sau vào gian phòng ngủ của gia đình ông Ơ, tại khoảng trống có chiều rộng 6,3cm giữa hai đệm ngủ đặt gần nhau trên sàn gian thứ 3 và gian thứ 4 tính theo hướng từ Đông sang Tây của ngôi nhà sàn, K đứng phía sau cháu T dùng hai tay ôm, xoa vào hai bên mạn sườn của T, làm T giật mình ngồi xuống, ngửa người ra, K cũng ngồi xuống phía bên phải người T rồi ngiêng người luồn tay trái của K qua cổ xuống phía dưới đè lên tay trái và kéo tay phải của T lên ngực rồi nắm cổ tay phải của cháu T lại. Sau đó K dùng bàn tay phải xoa vào mạn sườn bên trái rồi tiếp tục thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với cháu T như lần thứ nhất. Khi T kêu đau, K rút ngón tay ra rồi đi ra bàn uống nước sau đó đi về.

Đến 16 giờ 45 phút ngày 08/4/2020, ông Lò Văn Ơ là ông nội của cháu Lò Thị Thủy T đã có đơn trình báo yêu cầu cơ quan CSĐT Công an huyện TG giải quyết.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tình dục số 74/TD-PY ngày 13/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận:

- Môi lớn, môi bé, âm hộ, tầng sinh môn: Không thấy tổn thương.

- Màng trinh: Giãn nhẹ, không rách, không có vết bầm tím quanh màng trinh và tại màng trinh.

- Âm đạo: Màng trinh không rách nên không thăm khám trong.

- Lấy dịch quanh âm hộ và mép ngoài màng trinh làm phiến đồ tìm tinh trùng kết quả: Không tìm thấy tinh trùng trên các phiến đồ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã quyết định:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K 12 (Mười hai) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 08/4/2020).

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Phạm Văn K cho bị hại tổng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Buộc bị cáo Phạm Văn K phải bồi thường tiếp cho bị hại Lò Thị Thủy T số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/10/2020, người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Lò Văn T2 có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Phạm Văn K, với lý do: Việc thu thập chứng cứ của Cơ quan Công an không đầy đủ và thiếu tính chính xác; kết quả giám định pháp y thiếu tính khách quan; mức bồi thường thấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện hợp pháp của người bị hại là ông Lò Văn T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng bồi thường đối với bị cáo Phạm Văn K.

Bị cáo Phạm Văn K tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 đồng cho gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại 10.000.000 đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của gia đình bị hại, tăng mức bồi thường của bị cáo cho người bị hại và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt Tòa sơ thẩm đã tuyên và chấp nhận việc bồi thường cho gia đình bị hại tổng số 30.000.000 đồng theo ý kiến của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét kháng cáo của đại diện gia đình bị hại về tố tụng, thấy:

. Việc thu thập chứng cứ của Cơ quan Công an:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TG, Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân huyện TG, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng với các quy định của pháp luật.

. Về Kết quả giám định pháp y:

Tại bản Kết luận giám định pháp y về tình dục số 74/TD-PY ngày 13/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên kết luận:

- Môi lớn, môi bé, âm hộ, tầng sinh môn: Không thấy tổn thương.

- Màng trinh: Giãn nhẹ, không rách, không có vết bầm tím quanh màng trinh và tại màng trinh.

- Âm đạo: Màng trinh không rách nên không thăm khám trong.

- Lấy dịch quanh âm hộ và mép ngoài màng trinh làm phiến đồ tìm tinh trùng kết quả: Không tìm thấy tinh trùng trên các phiến đồ.

Sau khi có kết quả giám định pháp y, đại diện gia đình bị hại không khiếu nại. Việc giám định pháp y thực hiện đúng trình tự thủ tục, lấy mẫu, quy định giám định. Do vậy, việc kháng cáo của đại diện gia đình bị hại là không có cơ sở.

Về tội danh và hình phạt đối với bị cáo:

. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn K khai nhận: Vào khoảng từ 16 giờ đến 16 giờ 15 phút ngày 08/4/2020 tại gia đình ông Lò Văn Ơ và bà Cà Thị B ở bản Khá, xã QC, huyện TG, tỉnh Điện Biên, để thỏa mãn dục vọng của bản thân, K đã 02 lần xâm hại tình dục đối với cháu Lò Thị Thủy T sinh ngày 02/3/2010, cụ thể:

Lần 1, vào khoảng 16 giờ 05 phút ngày 08/4/2020 tại nhà tắm của gia đình ông Lò Văn Ơ, K đứng sau hơi chếch sang phía bên phải người T, với tư thế khom người, K đã dùng hai tay xoa dầu gội lên đầu, cổ và toàn thân cháu T, K dùng bàn tay phải vuốt lên vuốt xuống bên ngoài bộ phận sinh dục của cháu T ba lần, sau đó dùng ngón giữa của bàn tay xâm nhập vào âm hộ khoảng một đốt ngón tay, cháu T kêu lên “Á đau”, K liền rút ngón tay ra rồi đi lên nhà chơi game với Q là anh của cháu T.

Lần 2, cách khoảng 10 phút sau khi K xâm hại tình dục lần 1 đối với cháu T, khi T tắm xong lên nhà để tìm quần mặc, K liền đi theo sau vào gian phòng ngủ của gia đình ông Ơ, tại khoảng trống giữa hai đệm ngủ đặt gần nhau trên sàn gian thứ 3 và thứ 4 tính theo hướng từ Đông sang Tây của ngôi nhà sàn, K đứng phía sau cháu T dùng hai tay ôm, xoa vào hai bên mạn sườn của T, làm T giật mình ngồi xuống, ngửa người ra, K cũng ngồi xuống phía bên phải người T rồi nghiêng người luồn tay trái của K qua cổ xuống phía dưới đè lên tay cháu và kéo tay phải của T lên ngực rồi nắm cổ tay phải của cháu T lại. Sau đó K dùng bàn tay phải xoa vào mạn sườn bên trái rồi tiếp tục thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với cháu T như lần thứ nhất. Khi cháu T kêu đau, K rút ngón tay ra rồi đi về bàn uống nước.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản ghi lời khai của bị hại Lò Thị Thủy T, lời khai của cháu Lò Xuân Q cũng như lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác; Kết luận giám định pháp y về tình dục số 74/TD-PY ngày 13/4/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Điện Biên và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Phạm Văn K đã 02 lần thực hiện quan hệ tình dục khác bằng cách dùng ngón tay giữa của bàn tay phải xâm nhập vào bộ phận sinh dục của cháu Lò Thị Thủy T tại thời điểm cháu T dưới 13 tuổi. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Dùng bộ phận khác trên cơ thể như ngón tay, lưỡi..., dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục nữ, hậu môn của người khác”, do đó, bị cáo Phạm Văn K phải chịu trách nhiệm về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tòa án cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Phạm Văn K đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn K là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bị hại Lò Thị Thủy T, khi bị hại chưa đủ 13 tuổi là độ tuổi chưa phát triển đầy đủ về thể chất. Hành vi phạm tội của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn nói riêng và trong toàn xã hội nói chung, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:

Ngày 24/7/2008 bị cáo Phạm Văn K bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm tù về tội “Vận chuyển tiền giả”, ngày 31/8/2010 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường cho bị hại cháu Lò Thị Thủy T số tiền 8.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm gia đình bị hại 10.000.000 đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại và cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Phạm Văn K 12 năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” là đúng, bị cáo không kháng cáo về tội danh và hình phạt.

Do vậy, đơn kháng cáo của đại diện gia đình bị hại cho rằng “tội danh và hình phạt đưa ra đối tượng gây án không phù hợp” là không có cơ sở.

Xét kháng cáo về trách nhiệm bồi thường dân sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 12.000.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường cho bị hại cháu Lò Thị Thủy T số tiền 8.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm gia đình bị hại 10.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy việc tự nguyện bồi thường này không trái với quy định của pháp luật, cần ghi nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của đại diện gia đình bị hại được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự,

QUYẾT ĐỊNH:

- Không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt của đại diện gia đình bị hại; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn K.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 142; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn K 12 (Mười hai) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 08/4/2020).

- Chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng trách nhiệm dân sự của đại diện gia đình bị hại; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2020/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên về phần trách nhiệm dân sự.

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 592 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo Phạm Văn K cho bị hại tổng số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Buộc bị cáo Phạm Văn K phải bồi thường tiếp cho bị hại Lò Thị Thủy T số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ