vanban.org

Bản án 39/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kh, V phạm tội trômj cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 100 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2025/HS-ST
Ngày: 19/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Thạch Thị Lan Nhung - Nguyên chủ nhiệm Ủy ban dân số gia đình & trẻ em huyện Lâm Hà (cũ).

+ Ông Phạm Ngọc Diện - Phó Giám đốc trung tâm phục vụ hành chính công xã Phúc Thọ Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Văn Cương –Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025; Tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày ngày 29 tháng 10 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Nguyễn Lê Bảo K; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: (không). Sinh ngày 27 tháng 4 năm 2009 tại Lâm Đồng. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 02 tháng 10 ngày. Nơi ĐKHKTT: Xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở: Thôn Q, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Học sinh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Họ tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1983. Họ tên mẹ: Lê Thị Q, sinh năm 1989. Anh, em ruột: Có 02 người, lớn là bị cáo, nhỏ sinh năm 2015. Hiện cha, mẹ và em đang sinh sống tại xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo K: Bà Lê Thị Q, sinh năm 1989, địa chỉ: Thôn Q, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo K và bà Q có mặt tại phiên tòa. 2. Họ và tên: Nguyễn Bá V; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: không. Sinh ngày 08 tháng 3 năm 2008 tại Lâm Đồng. Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 3 tháng 29 ngày. Nơi ĐKHKTT: Xã P, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở: Thôn L, xã P, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Nông dân. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo. Họ tên cha: Nguyễn Bá C, sinh năm 1980. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1983. Anh, em ruột: Có 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ nhất là bị cáo. Hiện cha, mẹ và anh đang sinh sống tại xã P, tỉnh Lâm Đồng. Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo V đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1983, địa chỉ: Thôn L, xã P, tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo V, bà H có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Đinh Bá K1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Ông K1 vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn K2’ Thiện Trí, sinh ngày 09/10/2012. Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của anh T1: Bà K’ H1, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn S, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Anh T1 và bà K3 có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ ngày 06/7/2025, Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V và Đoàn K'Thiện T1 đi chơi tại khu vực bờ hồ thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng và ngủ qua đêm tại đây. Đến khoảng 06 giờ ngày 07/7/2025, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 49AA-549.07 chở K và T1 đi xung quanh khu đô thị mới thuộc xã Đ. Khi đến quán B do ông Đinh Bá K1, sinh năm 1989 làm chủ, K nảy sinh ý định vào quán để trộm cắp tài sản. K nói “Vô đây chơi bida không? Chơi đi rồi tao nghĩ cách lấy trộm tiền của quán” thì V, T1 đồng ý. V dừng xe bên ngoài, cả ba đi vào gọi thì được nhân viên của quán mở cửa, chọn phòng lấy gậy và bida để chơi, nhân viên quán vào lại phòng ngủ. Khoảng 15 phút sau, quan sát không có người, K lén lút đi đến vị trí quầy thu ngân (cách bàn bida 02m), thấy hộc quầy (dạng ngăn kéo) vẫn cắm chìa khóa nên K dùng tay trái cầm và xoay chìa khóa thì ngăn kéo mở ra, K lấy 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng (tất cả đều làm bằng chất liệu P), tổng 3.000.000 đồng. K bỏ vào túi quần phía trước, bên phải và đi ra nói với V, T1 “Anh ơi, lấy được rồi nè, đi thôi, không người ta dậy”. Sau đó, cả ba ra lấy xe mô tô và đi ăn sáng hết 150.000 đồng (không nhớ vị trí của quán); Đi bơi tại quán M, thôn Y, xã Đ H2 do ông Lương Thái H3, sinh năm 1987 quản lý, hết 250.000 đồng, đi ăn tại quán B1, thôn Y, xã Đ H2 do ông Tống Minh H4, sinh năm 1958 làm chủ, hết 150.000 đồng; chơi Game tại quán I, thôn V, xã Đ H2 do ông Nguyễn Đăng Q1, sinh năm 1993 làm chủ hết 210.000 đồng, K mua 260.000 đồng vé số của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch). K là người cầm và thanh toán tiền ăn, chơi. Số còn lại 1.980.000 đồng K cất vào túi quần. Đến 19 giờ cùng ngày, khi đang chơi Game tại quán I thì K, V và T1 bị Công an xã Đ H2 triệu tập làm việc, cả ba khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 xe mô tô Honda Wave, màu xám, biển kiểm soát 49AA- 549.07 và số tiền 1.980.000 đồng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1983, trú tại thôn L, xã P, tỉnh Lâm Đồng, bà H không biết, không cho phép bị cáo V sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; Đối với số tiền là tài sản hợp pháp của ông Đinh Bá K1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe, tiền cho chủ sở hữu, bà H và ông K1 không yêu cầu gì thêm. Đối với vé số K mua, sau đó đã bị mất, không thu giữ được. Trong quá trình điều tra, ông Đinh Bá K1 giao nộp 01 USB màu đen, bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đây là tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần lưu trữ theo hồ sơ vụ án. Tại bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 27-10-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng truy tố ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng để xét xử các bị cáo Nguyễn Bá V, Nguyễn Lê Bảo K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo K, V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, các bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng phát biểu quan điểm về vụ án và khẳng định rằng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thì thấy rằng, hành vi các bị cáo Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V đã đủ cơ sở truy tố về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V phạm “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi xảy ra sự việc đã “Tự nguyện khắc phục hậu quả” nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Bảo K từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về tang vật vụ án: Không có.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, những người đại diện hợp pháp của các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo K, V rất ăn năn hối cãi, đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội đi học và phụ giúp gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng:

Trong quá trình điều tra, khởi tố, truy tố các bị cáo, cơ quan cảnh sát Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 21 giờ ngày 06/7/2025, các bị cáo Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V và Đoàn K'Thiện T1 đi chơi tại khu vực bờ hồ thuộc xã Đ, tỉnh Lâm Đồng và ngủ qua đêm tại đây. Đến khoảng 06 giờ ngày 07/7/2025, bị cáo V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 49AA-549.07 chở bị cáo K và T1 đi xung quanh khu đô thị mới thuộc xã Đ. Khi đến quán B của ông Đinh Bá K1, bị cáo K nảy sinh ý định vào quán để trộm cắp tài sản và rủ bị cáo V và T1 thì được V, T1 đồng ý. V dừng xe bên ngoài, cả ba đi vào gọi thì được nhân viên của quán mở cửa, chọn phòng lấy gậy và bida để chơi, nhân viên quán vào lại phòng ngủ. Khoảng 15 phút sau, quan sát không có người, bị cáo K lén lút đi đến vị trí quầy thu ngân (cách bàn bida 02m), thấy hộc quầy (dạng ngăn kéo) vẫn cắm chìa khóa nên K dùng tay trái cầm và xoay chìa khóa thì ngăn kéo mở ra, K lấy 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng (tất cả đều làm bằng chất liệu P), tổng 3.000.000 đồng.

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V đã phạm Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Lâm Đồng đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. [3] Xét tính chất, hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi việc làm của mình là hành vi vi phạm pháp luật, biết nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý trách nhiệm hình sự, nhưng vì tham lam, tư lợi nên đã cố ý phạm tội trộm cắp. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng là để phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, các bị cáo “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, sau khi xảy ra sự việc đã cùng gia đình “Tự nguyện khắc phục hậu quả” đồng thời ngày 01/10/2025, ông Đinh Bá K1 có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo nên các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về quyết định hình phạt: Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, do vậy cần áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và cũng cần phân hóa vai trò của các bị cáo khi quyết định hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Bá V lớn tuổi hơn bị cáo Nguyễn Lê Bảo K nhưng khi bị cáo K rủ đi trộm cắp tài sản, đáng lẽ phải khuyên can K nhưng bị cáo V lại đồng ý và chở K, T1 đến quán B, bị cáo K là người lén lút đi đến vị trí quầy thu ngân, thấy hộc quầy vẫn cắm chìa khóa nên bị cáo K mở ngăn kéo ra và lấy 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 04 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng, tổng 3.000.000 đồng. Bị cáo K là người rủ rê bị cáo V và T1, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội do vậy bị cáo K phải chịu hình phạt nặng hơn bị cáo V. Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần cáp dụng các quy định tại Điều 90, 91, 98, 101 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Bị cáo V và Đoàn K'Thiện T1 có vai trò đồng phạm ngang nhau, tuy nhiên tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, T1 chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự. [6] Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave, màu xám, biển kiểm soát 49AA- 549.07, xác định chiếc xe là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thúy H, bà H không biết, không cho phép bị cáo V sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên đã trả lại cho bà H là phù hợp. Đối với số tiền 1.980.000 đồng là tài sản hợp pháp của ông Đinh Bá K1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông K1 là phù hợp. Đối với vé số bị cáo K mua, sau đó đã bị mất, không thu giữ được. Trong quá trình điều tra, ông Đinh Bá K1 giao nộp 01 USB màu đen, bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh bị can K1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đây là tài liệu, đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần lưu trữ theo hồ sơ vụ án. [7] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo cùng gia đình đã trả lại cho ông Đinh Bá K1 toàn bộ số tiền đã trộm cắp, ông K1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập đến. [8] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, Đoàn K có vai trò đồng phạm với K, V thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 3.000.000 đồng tiền mặt, tuy nhiên tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, T1 mới 12 tuổi 08 tháng 28 ngày, chưa đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự nên không xem xét xử lý. Đối với ông Tống Minh H4, Lương Thái H3 và Nguyễn Đăng Q1 là những người bán đồ ăn, cung ứng dịch vụ cho các bị cáo, không biết số tiền mà các bị cáo sử dụng là do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xem xét xử lý. Đối với người phụ nữ bán vé số cho bị cáo K, không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xác minh, điều tra, làm rõ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, các Điều 36, 47, 58, 90, 91, 98 và Điều 100 Bộ luật Hình sự;

- Căn cứ các điều 106, 135, 136, 299, 326, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. 1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Bảo K, Nguyễn Bá V phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Bảo K 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Lê Bảo K cho UBND xã Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá V 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Nguyễn Bá V cho UBND xã P, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

3. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ