vanban.org

Bản án 39/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 21/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 94/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Anh T. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 BLHS, xử phạt: Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm tù về tội: Mua b…

Sửa bản án sơ thẩm số 94/HS ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, giảm hình phạt cho bị cáo Bùi Thanh N đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38, 17, 55, 58 BLHS; xử ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh N cùng đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 94/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Anh T. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 BLHS, xử phạt: Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm tù về tội: Mua b…
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 39/2023/HSPT
Ngày: 21/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tßa: Bà Bạch Thị Hồng Hoa

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Q T

Ông Vũ Văn Túc

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Vân Anh – Thẩm tra viên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 21/11/2023 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2023/TLPT - HS ngày 19/10/2023 đối với bản án số 94/2023/HSST ngày 07/9/2023 của TAND thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, do có kháng cáo của các bị cáo.

1. Bùi Thanh N, sinh năm 1979; Nơi sinh: Hòa Bình; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Số nhà 05, tổ 03, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bùi Xuân Đạm (đã chết) và bà Trần Thị Hòa; Có vợ là: Bùi Thị Bân và 02 con; con lớn 16 tuổi, con nhỏ 10 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không

* Nhân thân:

- Năm 2013 bị Công an phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy", đã thi hành xong.

- Năm 2020 bị Công an thành phố Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi "Mua dâm", đã thi hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/03/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Anh T, sinh năm 1974; Nơi sinh: Hòa Bình; Giới tính: Nam

Nơi cư trú: Số nhà 01, tổ 11, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Bá Khiêm và bà Trần Thị Nhâm; Có vợ là: Lại Hải Hường và 02 con; con lớn 27 tuổi, con nhỏ 20 tuổi.

Tiền sự: Không

Tiền án: 03

- Ngày 16/01/1999 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

- Ngày 26/02/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"

- Ngày 09/12/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Chấp hành xong bản án ngày 12/4/2021.

* Nhân thân: Năm 2006 bị Công an huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xử phạt hành chính về hành vi "Cố ý gây thương tích"

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 22/03/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa

* Bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị: Đinh Văn Ng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo

1. Nguyễn Tiến Q.

2. Nguyễn Cao C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối 21/03/2023 Bùi Thanh N đi từ nhà đến khu vực đầu cầu Hòa Bình 1, thuộc phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình tìm mua ma túy để sử dụng, tại đây N mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy giá 200.000đ. N mang về nhà lấy ra 01 ít để sử dụng, phần còn lại chia ra cất giấu.

Khoảng 06h00, ngày 22/3/2023 có Nguyễn Tiến Q hỏi mua 200.000đ tiền ma túy, N đồng ý, do số ma túy còn lại không đủ số tiền 200.000đ nên N đưa trước cho Q một ít ma túy và thống nhất khi nào có sẽ đưa nốt. N bảo Q đợi ở trước cửa nhà Đinh Văn Ng để nhận ma túy, sau đó N đi xe máy đến gặp đưa cho Q 01 gói ma túy, và nhận từ Q số tiền 190.000đ. Có ma túy Q đi tìm địa điểm và sử dụng hết. Sau đó N rủ Q đi ăn sáng, ăn sáng xong cả hai rủ nhau đến nhà Đinh Văn Ng tại tổ 05, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình chơi. Tại tầng 2 nhà Nghĩa, N rủ Nghĩa và Q sử dụng ma túy, Nghĩa và Q đồng ý, do chưa có ma túy nên N bỏ ra 800.000đ, gồm 610.000đ của N và 190.000đ tiền bán ma túy cho Q trước rồi một mình đi đến nhà Nguyễn Anh T, trú tại tổ 11, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình để mua 800.000đ heroin và hồng phiến. T giao cho N 04 gói ma túy.

Sau khi mua được ma túy, N quay về nhà Nghĩa, trên đường về N mua 02 xilanh để làm dụng cụ sử dụng ma túy, về đến nhà Nghĩa, N lên tầng 2 và lấy ra 01 gói ma túy pha chế vào 02 xilanh cho Q và N sử dụng, đồng thời đưa cho Nghĩa một phần ma túy để Nghĩa tự pha chế sử dụng, còn lại 03 gói ma túy N cất giấu trên nóc tủ đựng quần áo trên tầng 2 nhà Nghĩa.

Khi N, Nghĩa và Q sử dụng ma túy xong thì có Nguyễn Cao C gọi điện cho N để hỏi mua ma túy, N đồng ý và chỉ đường cho C lên tầng 2 Nhà Nghĩa để N bán cho C, tại đây N đã bán cho C một phần ma túy với giá 100.000đ nhưng C chưa trả tiền, C tự sử dụng ngay tại nhà Nghĩa hết số ma túy trên.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày 22/03/2023 thì Bùi Thanh N, Đinh Văn Ng, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Cao C bị cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình kiểm tra N đã tự giác giao nộp 03 gói ma túy N cất giấu, ngoài ra cơ quan công an thu giữ thêm 03 điện thoại di động và 02 xilanh, trong đó có một chiếc đã qua sử dụng.

Ngày 22/3/2023 khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Thành N, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, trong có chứa 02 hai mảnh viên nén mầu hồng.

Cùng ngày 22/3/2023 khám xét chỗ ở của Đinh Văn Ng phát hiện thu giữ 03 bơm kim tiêm và 02 ống thuỷ tinh có chữ NOVOCAIN, 02 túi nilon dạng túi zip màu trắng, trong đó 01 túi có bám dính chất bột màu trắng, hồng.

Bùi Thanh N khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ tại nhà Nghĩa là do N mua được của người đàn ông tên "T Khiêm", nhà gần trường Cao đẳng sư phạm Hòa Bình vào ngày 22/03/2023, còn 02 mảnh viên nén mầu hồng thu giữ tại nhà và số ma túy N bán cho Q là do N mua được của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại cầu Hòa Bình 1 vào ngày 21/03/2023.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Anh T, tổ 11, phường Dân Chủ, thành phố Hòa Bình, đã phát hiện thu giữ trên giường trong phòng ngủ tầng hai 01 cân điện tử màu đen bạc; 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng do Nguyễn Anh T tự giác giao nộp và 01 điện thoại di động.

Tại bản kết luận giám định số 123/KL- KTHS ngày 30/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong các gói đánh số M1,M2,M3 trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi tên đối tượng: Bùi Thanh N SN: 1979, HKTT: tổ 03 Thái Bình, TPHB; gửi giám định có khối lượng 0,49g, là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine".

Tại bản kết luận giám định số 124/KL-KTHS ngày 30/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận: "Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M1 trong phong bì niêm phong, một mặt có ghi tên đối tượng: Nguyễn Anh T, SN:1974, HKTT: tổ 11 Dân chủ, TPHB; gửi giám định có khối lượng 0,35g, là ma túy, loại heroin.”

" Mảnh viên nén màu hồng ký hiệu M2 trong phong bì niên phong vật chứng một mặt ghi tên đối tượng: Nguyễn Anh T SN:1974, HKTT: tổ 11 Dân chủ, TPHB; gửi giám định có khối lượng 0,87g, là ma túy, loại Methamphetamine".(Bl 124-125).

Tại bản kết luận giám định số 125/KL-KTHS ngày 30/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Hòa Bình, kết luận: "02 mảnh viên nén màu hồng trong phong bị niêm phong vật chứng, một mặt có ghi khám xét khẩn cấp nhà Bùi Thanh N thuộc vụ án Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đối tượng bị bắt Bùi Thanh N, SN: 1979, HKTT và chỗ ở: tổ 03 Thái Bình, TPHB, Hòa Bình; gửi giám định có khối lượng 0,05g, là ma túy, loại loại Methamphetamine".(Bl 126-127).

Tại bản kết luận giám định số 3191/KL-KTHS ngày 10/5/2023 của Viện khoa học hình sự – Bộ Công an, Kết luận:

"Phong bì 02: tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong xilanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, ký hiệu XL1 gửi giám định; không tìm thấy chất ma túy trong xilanh loại 3ml/cc đựng trong 01 (một) túi nilon hàn kín gửi giám định".

"Phong bì 03: Đều tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và Heroine trong 03 xilanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng, ký hiệu: XL2, XL3 và XL4 gửi giám định; tìm thấy chất ma túy Methamphetamine và Heroin trong túi nilon ký hiệu T1 gửi giám định; không tìm thấy chất ma túy trong túi nilon ký hiệu T2 gửi giám định; không tìm thấy chất ma túy trong 02 vỏ ống thủy tinh có chữ NOVOCAIN 3% đã qua sử dụng, ký hiệu L1 và L2 gửi giám định".

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 94/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình đã Quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 17, 55, 58, 103 BLHS; xử phạt: Bùi Thanh N 7 năm 6 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; tổng hợp hình phạt của hai tội là 14 năm 6 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2023.

Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 38 BLHS, xử phạt: Nguyễn Anh T 7 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS, điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 17, 58 BLHS, xử phạt: Đinh Văn Ng 7 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2023.

Ngoài ra bản án còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Ngày 20/9/2023 bị cáo Bùi Thanh N kháng cáo, nội dung bị cáo không phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như bản án sơ thẩm đã quy kết.

Ngày 11/9/2023 bị cáo Nguyễn Anh T kháng cáo, bản án sơ thẩm xét xử bị cáo theo khoản 2 đối với bị cáo là quá nặng. Bị cáo chỉ phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa bị cáo N thay đổi nội dung kháng cáo. Xin giảm hình phạt cho cả hai tội. Bị cáo xuất trình thêm chứng cứ mới là Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huy chương kháng chiến hạng nhất của ông Trần Văn Thành là ông Ngoại của bị cáo do có công với Cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Đã có thành tích trong cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của dân tộc.

Đại diện VKS nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của bị cáo.

Về nội dung kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh N: Đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là phù hợp với vai trò của bị cáo trong vụ án và hành vi, hậu quả bị cáo đã thực hiện, không có căn cứ để giảm hình phạt như kháng cáo của bị cáo đã nêu. Đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy: Số lượng bị cáo mua bán ít hơn bị cáo T; Chính lời khai của bị cáo N đã giúp cơ quan điều tra phát hiện đồng phạm trong vụ án. Các chứng cứ mới bị cáo cung cấp tại cấp phúc thẩm, gia đình có người có công với cách mạng. Có căn cứ để giảm hình phạt cho bị cáo đối với tội này. Đề nghị áp dụng điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm hình phạt cho bị cáo. Cụ thể đề nghị xử phạt bị cáo từ 5 đến 6 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp với hình phạt của tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Các bị cáo Bùi Thanh N, Nguyễn Anh T, Đinh Văn Ng có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi xảy ra tại địa bàn thành phố Hòa Bình, thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại Điều 268; 269 bộ luật tố tụng hình sự.

Ngày 07/9/2023 của Tòa án sơ thẩm xét xử vụ án. Ngày 20/9/2023 bị cáo Bùi Thanh N kháng cáo; ngày 11/9/2023 bị cáo Nguyễn Anh T kháng cáo. Đơn kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung:

Ngày 21/03/2023 bị cáo Bùi Thanh N mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000đ. N mang về nhà lấy ra 01 ít để sử dụng, phần còn lại N chia ra cất giấu, nếu có ai mua sẽ bán kiếm lời. Khoảng 06h00 ngày 22/3/2023 N bán cho Nguyễn Tiến Q 01 gói ma túy, số tiền 190.000đ. Có ma túy Q đi tìm địa điểm và sử dụng hết. Sau đó N rủ Q đi ăn sáng, ăn sáng xong cả hai rủ nhau đến nhà Đinh Văn Ng tại tổ 05, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình để sử dụng ma túy, Ng và Q đồng ý, do chưa có ma túy nên N bỏ ra 800.000đ, rồi một mình đi đến nhà Nguyễn Anh T để mua 800.000đ được 04 gói heroin và hồng phiến.

N đã mua 02 xilanh để làm dụng cụ sử dụng ma túy, về đến nhà Ng, N lên tầng 2 và lấy ra 01 gói ma túy pha chế vào 02 xilanh cho Q và N sử dụng, đồng thời đưa cho Ng một phần ma túy để Ng tự pha chế sử dụng, còn lại 03 gói ma túy N cất giấu. Sau đó có Nguyễn Cao C hỏi mua ma túy, N bảo C lên tầng 2 nhà Ng, tại đây N đã bán cho C 100.000đ, C tự sử dụng ngay tại nhà Ng hết số ma túy trên.

Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày 22/03/2023 thì Bùi Thanh N, Đinh Văn Ng, Nguyễn Tiến Q, Nguyễn Cao C bị phát hiện bắt quả tang về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, N đã tự giác giao nộp 03 gói ma túy cất giấu có khối lượng là 0,49g Heroine và Methamphetamine. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của N, thu giữ 0,05g ma túy, loại Methamphetamine

Cùng ngày 22/3/2023 khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đinh Văn Ng tại tổ 5, phường Thái Bình, thành phố Hòa Bình, phát hiện thu giữ 03 bơm kim tiêm và 02 ống thuỷ tinh có chữ NOVOCAIN, 02 túi nilon dạng túi zip màu trắng, trong đó 01 túi có bám dính chất bột màu trắng, hồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Anh T, đã phát hiện thu giữ 01 cân điện tử màu đen bạc và ma túy có khối lượng 0,35g heroin; 0,87g Methamphetamine.

Như vậy, bị cáo Bùi Thanh N có hành vi 02 lần mua ma túy (01 lần 200.000đ và 01 lần 800.000đ) để sử dụng cho bản thân và bán cho các con nghiện. Đã bán cho Nguyễn Tiến Q 190.000đ và Nguyễn Cao C 100.000đ. Ngoài ra bị cáo còn có hành vi trực tiếp rủ bị cáo Q đến nhà bị cáo Ng để sử dụng ma túy tại tầng 2 nhà ở của Ng. Trực tiếp đi mua 800.000đ ma túy về chia thành 04 gói; trực tiếp đi mua xi lanh cho Q và Ng cùng sử dụng 01 gói ma túy, (còn 03 gói ma túy cất lên nóc tủ nhà bị cáo Ng thì bị phát hiện và bắt quả tang). Khi Nguyễn Cao C hỏi mua ma túy bị cáo đã bảo C đến tầng 2 nhà ở của bị cáo Ng để bán ma túy cho C, C cũng trực tiếp sử dụng ma túy tại đó. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung hình phạt là đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Anh T có hành vi bán 800.000đ ma túy cho Bùi Thanh N ngày 22/3/2023, ngoài ra khám nhà ở của bị cáo còn thu giữ 0,35g heroin và 0,87g, Methamphetamine. Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích, do đó lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt bị cáo Bùi Thanh N về 02 tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 2 Điều 251; xử phạt Nguyễn Anh T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của các bị cáo:

* Kháng cáo của Bùi Thanh N xin giảm hình phạt cho cả hai tội với lý do bị cáo am hiểu pháp luật hạn chế, trong thời gian tạm giam đã rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo còn có mẹ già, con nhỏ, xin được giảm hình phạt để sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời. Xét:

Đối với tội mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo là người trực tiếp mua 02 lần ma túy và trực tiếp bán cho 02 người, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù, mức hình phạt đầu khung của khoản 2 Điều 251 BLHS là thỏa đáng. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm t khoản 1, khoản 2 của Điều 51 BLHS để xử phạt bị cáo từ 5 đến 6 năm tù về tội này là chưa đủ căn cứ vững chắc. Khi bị bắt quả tang chính bị cáo khai ra nguồn gốc ma túy bị cáo sử dụng là mua của bị cáo T, giúp cơ quan điều tra phát hiện đồng phạm trong vụ án. Bị cáo đã được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do đó không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo đối với tội này.

Đối với tội Tổ chức xử dụng trái phép chất ma túy, bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 7 năm 6 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên xét vai trò của bị cáo trong vụ án này, các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, rủ nhau đến địa điểm là nhà của bị cáo Ng để sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm chứng cứ mới, ông ngoại bị cáo là ông Trần Văn Thành đã có thành tích trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước; có thành tích trong công cuộc kháng chiến lâu dài của dân tộc; được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; Huy chương kháng chiến hạng nhất, là người có công với cách mạng. Có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo.

* Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T cho rằng bị cáo chỉ phạm vào khoản 1 Điều 251, không thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm như quy kết của bản án sơ thẩm.

Xét: Bị cáo Nguyễn Anh T đã bị xử phạt tại 03 bản án:

Tại bản án số 08 ngày 16/01/1999 bị Tòa án nhân dân thị xã Hòa Bình xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và phạt bổ sung 20.000.000đ để xung công quỹ nhà nước; phải chịu 50.000đ tiền án phí hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Chưa thi hành hình phạt bổ sung và án phí.

Tại bản án số 27/HSST ngày 26/02/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 42 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Truy thu 240.000đ để sung quỹ nhà nước và phải chịu 50.000đ tiền án phí hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Chưa nộp tiền án phí và số tiền truy thu.

Tại bản án số 105/HSST ngày 09/12/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 07 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 12/4/2021 và chấp hành xong án phí, khoản tiền truy thu. Bản án chưa được xóa án tích.

Căn cứ quy định tại mục 7 phần I văn bản số 64/TANDTC - PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì các bản án trên chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo quy định tại điểm điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS, bị cáo thành khẩn khai báo, có bố mẹ là người có công trong cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đã được cấp sơ thẩm áp dụng và xử phạt bị cáo 7 năm tù là phù hợp với hành vi, hậu quả bị cáo đã thực hiện. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí phúc thẩm; kháng cáo của bị cáo N được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh T; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Thanh N.

1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 94/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình về tội danh và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Anh T. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38 BLHS, xử phạt: Nguyễn Anh T 07 (bảy) năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy; thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2023.

2. Sửa bản án sơ thẩm số 94/HS ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, giảm hình phạt cho bị cáo Bùi Thanh N đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 38, 17, 55, 58 BLHS; xử phạt: Bùi Thanh N 07 (bảy) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; 07 (bảy) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; tổng hợp hình phạt của hai tội là 14 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 22/03/2023.

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Thanh N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ