- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị P và Lữ Thị N phạm tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội tổ chức đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2022/HS-ST Ngày: 19-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Hoàng Khải
2. Ông Nguyễn Thành Quyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Nghĩa - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 19 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 06 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Thị P, sinh năm: 1987 tại huyện P, tỉnh H; Nơi cư trú: ấp Hưng P, thị trấn C, huyện P, tỉnh H; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Nguyễn Văn T (sống); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L (sống); Bị cáo có chồng là Nguyễn Hoàng N (đã ly hôn), hiện sinh sống như vợ chồng với Nguyễn Văn H (không đăng ký kết hôn) và có 02 con; tiền án: không; tiền sự: 01 lần. Ngày 29/03/2021 bị Công an huyện Phụng Hiệp xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép với mức phạt tiền 1.500.000 đồng, bị cáo nộp phạt xong ngày 07/04/2021; nhân thân: xấu; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 05/12/2021 đến ngày 14/12/2021 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Lữ Thị N, sinh năm: 1975 tại huyện C, tỉnh H; Nơi cư trú: ấp Đông B, thị trấn N, huyện C, tỉnh H; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Lữ Văn M (chết); họ và tên mẹ: Mai Thị T (chết); Bị cáo có chồng và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo bị khởi tố ngày 10/01/2022 và được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trương Thị P, sinh năm: 1957; Địa chỉ: ấp Hiệp H, xã Hiệp H, huyện P, tỉnh H. (có mặt)
2. Bà Lữ Thị P1, sinh năm: 1981; Địa chỉ: ấp Hưng P, thị trấn C, huyện P, tỉnh H. (có mặt)
3. Bà Cao Thị U, sinh năm: 1952; Địa chỉ: ấp Hiệp H, xã Hiệp H, huyện P, tỉnh H. (có mặt)
4. Bà Võ Thị T, sinh năm: 1958; Địa chỉ: ấp Hiệp H, xã Hiệp H, huyện P, tỉnh H. (vắng mặt)
5. Anh Nguyễn Vĩ K, sinh năm: 2000; Địa chỉ: ấp Đông B, thị trấn N, huyện C, tỉnh H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua nguồn tin tố giác của quần chúng nhân dân, vào lúc 16 giờ 07 phút, ngày 05/12/2021, lực lượng Công an huyện Phụng Hiệp kết hợp Công an thị trấn Cây Dương tiến hành bắt quả tang bị can Nguyễn Thị P đang thực hiện hành vi giao nhận phơi đề qua mạng xã hội Zalo cho bị can Lữ Thị N tại nhà thuộc ấp Mỹ Q, thị trấn C, huyện P, tỉnh H. Tang vật thu giữ được trong quá trình bắt quả tang gồm: tiền Việt Nam 14.133.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0915.211.311, 01 điện thoại di động hiệu SamSung A02S (không có sim), 01 điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy Taba (không có sim), 01 máy tính hiệu Casio, 09 tờ giấy có ghi nhiều con số bằng mực xanh và mực đỏ và 32 cây viết các loại.
Quá trình điều tra bị can Nguyễn Thị P và bị can Lữ Thị N khai nhận cụ thể như sau:
Đối với bị can Nguyễn Thị P: Bị can P không trực tiếp thực hiện hành vi ghi bán số đề, bị can P chỉ thực hiện hành vi nhận phơi đề từ tay em là Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K), sau đó cộng phơi đề giao lại cho bị can Lữ Thị N, thường trú tại ấp Đông B, thị trấn N, huyện C, tỉnh H để hưởng số tiền chênh lệch từ việc giao nhận phơi đề. Hình thức giao phơi đề là bị can P sử dụng điện thoại chụp ảnh phơi đề, rồi sử dụng mạng xã hội Zalo tên P Nguyễn có số điện thoại 0915.211.311 chuyển phơi đề cho bị can N qua Zalo có tên Cô N số điện thoại 0764.357.027, thời gian giao phơi là trước 15 giờ 30 phút đối với các đài Miền Nam và trước 17 giờ 30 phút đối với đài Miền Bắc (Hà Nội), đối với kết quả thắng thua lời hay lỗ cũng được bị can P và bị can N tổng hợp chụp ảnh gửi qua mạng xã hội Zalo. Đối với tiền phơi đề, tiền thắng thua, tiền hưởng chênh lệch thì được bị can N và bị can P chuyển khoản qua Ngân hàng S, bị can P sử dụng số tài khoản 070095646296 chi nhánh huyện P, bị can N sử dụng số tài khoản 070114749735 tên Nguyễn Vĩ K (con của bị can N) chi nhánh huyện C. Bị can Nguyễn Thị P thực hiện hành vi giao nhận phơi đề từ ngày 03/12/2021 đến ngày 05/12/2021 thì bị bắt quả tang. Số tiền mà bị can P được hưởng chênh lệch từ việc giao phơi đề cho bị can N, cụ thể như sau:
- Đối với số đầu, số đuôi (bao gồm đài Miền Nam và đài Miền Bắc): Bị can Nguyễn Thị P nhận phơi đề từ Trương Thị P là 85% và Lữ Thị P1 (Ba K) là 80% trên tổng số tiền ghi bán số đề (ví dụ: tổng số tiền bán đề là 100.000 đồng thì bị can P chỉ lấy từ tay em 80.000 đồng hoặc 85.000 đồng, tay em hưởng số tiền từ 15.000 đồng đến 20.000 đồng), sau đó bị can P giao phơi đề cho bị can N 72% trên tổng số tiền thực tế mà P nhận từ tay em (ví dụ: tổng số tiền phơi đề là 100.000 đồng thì bị can N lấy số tiền của bị can P là 72.000 đồng, bị can P hưởng số tiền chênh lệch 28.000 đồng).
- Đối với kết quả xổ số đài Miền Nam:
+ Bao lô 02 con số là 18 lô và bao lô 03 con số là 17 lô, bị can P nhận từ tay em số tiền 13 lô, giao phơi đề cho bị can N là 12,6 lô, bị can P hưởng chênh lệch số tiền 0,4 lô (ví dụ: số tiền bao lô 02 con số là 1.000 đồng x 13 lô = 13.000 đồng, bị can P lấy tiền từ tay em là 13.000 đồng, bị can P giao cho bị can N số tiền 12.600 đồng, bị can P hưởng chênh lệch 400 đồng). Còn Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) lấy tiền của người mua đề bao nhiêu lô thì bị can P không xác định.
+ Đối với số đá: Số đá 02 con số bị can P nhận từ tay em là số tiền mua x 2 x 15; số đá 03 con số là số tiền mua x 6 x 15 và số đá 04 con số là số tiền mua x 12 x 15, giao lại cho bị can N là 12,6 hưởng lợi 2,4; bị can N tính tiền chung gồm số đá 02 con số, 03 con số và 04 con số là 12,6. Khi bị can P giao lại cho bị can N, đối với số đá 02 con số là số tiền mua x 2 x 12,6 hưởng lợi là số tiền mua x 2 x 2,4; đối với số đá 03 con số là số tiền mua x 6 x 12,6 hưởng lợi số tiền mua x 6 x 2,4 và đối với số đá 04 con số là số tiền mua x 12 x 12,6 hưởng lợi số tiền mua x 12 x 2,4. Bị can P không xác định được Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) bán cho khách thu bao nhiêu tiền và hưởng lợi là bao nhiêu (ví dụ: khách mua số đá 02 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 2 x 15 = 60.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 2 x 12,6 = 50.400 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 2 x 2,4 = 9.600 đồng; khách mua số đá 03 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 6 x 15 = 180.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 6 x 12,6 = 151.200 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 6 x 2,4 = 28.800 đồng; khách mua số đá 04 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 12 x 15 = 360.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 12 x 12,6 = 302.400 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 12 x 2,4 = 57.600 đồng).
- Đối với kết quả xổ số đài Miền Bắc (Hà Nội)
+ Đối với bao lô 02 con số: bị can P nhận từ tay em là 19,5 lô (27 lô nhưng khi tay em giao chỉ tính tiền là 19,5 lô), giao phơi đề lại cho bị can N là 19,1 lô, bị can P hưởng chênh lệch 0,4 lô. Bị can P không xác định được Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) bán cho khách thu bao nhiêu tiền và hưởng lợi bao nhiêu (ví dụ: khách mua bao lô 02 con số với số tiền là 2.000 đồng, bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 19,5 lô = 39.000 đồng, giao lại cho bị can N là 2.000 đồng x 19,1 lô = 38.200 đồng, hưởng lợi chênh lệch 2.000 đồng x 0,4 lô = 800 đồng).
+ Đối với bao lô 03 con số: bị can P nhận từ tay em là 19,5 lô (bao lô 03 con là 24 lô nhưng khi tay em giao chỉ tính tiền là 19,5 lô), giao phơi đề lại cho bị can N là 17 lô, bị can P hưởng chênh lệch 2,5 lô. Vì khách ít mua bao lô 03 con số nên số tiền hưởng lợi chênh lệch nhiều hơn so với bao lô 02 con số. Bị can P không xác định được Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) bán cho khách thu bao nhiêu tiền và hưởng lợi bao nhiêu (ví dụ: khách mua bao lô 03 con số với số tiền là 2.000 đồng, bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 19,5 lô = 39.000 đồng, giao lại cho bị can N là 2.000 đồng x 17 lô = 34.000 đồng, hưởng lợi chênh lệch 2.000 đồng x 2,5 lô = 5000 đồng).
+ Đối với số đá: Số đá 02 con số bị can P nhận từ tay em là số tiền mua x 42; số đá 03 con số là số tiền mua x 3 x 42 và số đá 04 con số là số tiền mua x 6 x 42 số 42 là số mặc định để tính tiền với tay em), bị can P giao lại cho bị can N là: đối với số đá 02 con số, là số tiền mua x 39, hưởng lợi là số tiền mua x 3; đối với số đá 03 con số là số tiền mua x 3 x 39, hưởng lợi số tiền mua x 3 x 3 và đối với số đá 04 con số là số tiền mua x 6 x 39, hưởng lợi số tiền mua x 6 x 3. Bị can P không xác định được Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) bán cho khách thu bao nhiêu tiền và hưởng lợi là bao nhiêu (ví dụ: khách mua số đá 02 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 42 = 84.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 39 = 78.000 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 3 = 6.000 đồng; khách mua số đá 03 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 3 x 42 = 252.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 3 x 39 = 234.000 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 3 x 3 = 18.000 đồng; khách mua số đá 04 con số với số tiền 2.000 đồng thì bị can P tính tiền với tay em là 2.000 đồng x 6 x 42 = 504.000 đồng, giao cho bị can N là 2.000 đồng x 6 x 39 = 468.000 đồng, hưởng lợi là 2.000 đồng x 6 x 3 = 36.000 đồng).
Đối với bị can Lữ Thị N: Bị can N trực tiếp làm thầu đề để tính thắng thua và nhận phơi đề từ bị can Nguyễn Thị P được 03 ngày thì bị can P bị bắt, bị can P tổng hợp phơi đề rồi chụp hình lại gửi qua mạng xã hội Zalo cho bị can N, khi có kết quả sổ xổ bị can N tổng hợp tính thắng thua (lời hay lỗ) thì chụp lại kết quả gửi qua mạng xã hội Zalo cho bị can P, sau đó thì bị can N và bị can P thực hiện việc chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng. Cụ thể vào ngày 05/12/2021, phơi đề của các đài Kiên Giang, Tiền Giang và Đà Lạt, tổng giá trị phơi đề bị can P nhận từ tay em Trương Thị P và Lữ Thị P1 (Ba K) với số tiền là 11.998.750 đồng, bị can P giao cho bị can N tổng giá trị phơi đề với tổng số tiền là 11.403.000 đồng, hưởng lợi chênh lệch số tiền là 595.750 đồng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định tổng số tiền đánh bạc ngày 05/12/2021 của bị can Nguyễn Thị P và bị can Lữ Thị N là 11.998.750 đồng. Riêng vào các ngày 03 và 04/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phụng Hiệp không thu giữ được các phơi đề, nên không xác định được cụ thể số tiền đánh bạc của bị can P và bị can N
Đối với Trương Thị P khai nhận: Vào ngày 05/12/2021 P ghi bán số đề cho những người cùng xóm, rồi sau đó sử dụng điện thoại Nokia 105 gắn sim 0983.459.163 gọi và đọc lại các số đề của những người mua cho bị can P ghi lại. Ngoài ra ngày 05/12/2021 P trực tiếp đánh số đầu, số đuôi là 55.000 đồng; ghi bán số đề cho Võ Thị T gồm số đầu, đuôi là 20.000 đồng và bao lô 02 con số là 20.000 đồng; Cao Thị U gồm số đầu, đuôi là 215.000 đồng và bao lô 02 con số là 42.000 đồng; bà C (không xác định được lai lịch) gồm số đầu, đuôi là 135.000 đồng và bao lô 02 con số là 42.000 đồng; bà N (không xác định được lai lịch) gồm số đầu, đuôi là 150.000 đồng và bao lô 02 con số là 42.000 đồng.
Đối với Lữ Thị P1 (Ba K): Lữ Thị P1 không thừa nhận hành vi ghi bán số đề và giao phơi đề cho bị can Nguyễn Thị P. Lữ Thị P1 chỉ thừa nhận vào ngày 05/12/2021 có mua số đề của bị can Nguyễn Thị P với số tiền 1.272.000 đồng; kết quả điều tra không chứng minh được Lữ Thị P1 thực hiện hành vi ghi bán số đề và giao phơi đề cho bị can P.
Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-HPH, ngày 13/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị P về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lữ Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P số tiền từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lữ Thị N số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ai khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Về nội dung: Vào lúc 16 giờ 07 phút, ngày 05/12/2021, tại nhà của bị cáo Nguyễn Thị P thuộc ấp Mỹ Q, thị trấn C, huyện P, tỉnh H, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an huyên Phụng Hiệp bắt quả tang bị cáo P có hành vi giao nhận phơi đề qua mạng xã hội Zalo cho bị cáo Lữ Thị N để hưởng số tiền chênh lệch. Tổng số tiền trên phơi đề mà bị cáo P và bị cáo N giao nhận có giá trị là 11.998.750 đồng nên hành vi của bị cáo Lữ Thị N đã đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Thị P vì có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính nên hành vi của bị cáo Nguyễn Thị P thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp truy tố các bị cáo là đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự công cộng và an toàn công cộng, làm mất an ninh tại địa phương, là tệ nạn xã hội, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến một số hệ lụy khác. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức dược đánh bạc dưới mọi hình thức ăn thua bằng tiền nhằm sát phạt lẫn nhau là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, nên đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. do đó cần có mức xử phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo thì mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Nguyễn Thị P trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo P đã ly hôn và đang nuôi con nhỏ sinh ngày 19/5/2017. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo Lữ Thị N trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có cha Lữ Văn M là ngời có công với Cách mạng, bị cáo bị bệnh u xơ tử cung. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Qua đó Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phụng Hiệp là phù hợp và cũng để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật
Đối với các đối tượng đánh bạc gồm: Trương Thị P, Võ Thị T, Cao Thị U và Lữ Thị P1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc và số tiền tham gia đánh bạc lần này mỗi người chưa đủ đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Phụng Hiệp đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp
Đối với đối tượng là bà N và bà C, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phụng Hiệp tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Đối với các vật chứng Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra thì Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng, đã qua sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0915211311; 01 điện thoại di động hiệu SamSung A02S (không có sim) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đen gắn sim số 0983.459163 và 01 máy tính hiệu Casio.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị P gồm 32 cây viết các loại.
Án phí hình sự sơ thẩm: mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị P phạm tội tổ chức đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P số tiền 50.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã nộp tại biên lai số 0002703 ngày 18/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Bị cáo Nguyễn Thị P còn phải nộp 30.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lữ Thị N phạm tội đánh bạc.
Xử phạt bị cáo Lữ Thị N số tiền 20.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì, nên không đặt vấn đề giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước các vật chứng, đã qua sử dụng vào mục đích đánh bạc gồm: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max gắn sim số 0915211311; 01 điện thoại di động hiệu SamSung A02S (không có sim) và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh đen gắn sim số 0983.459163 và 01 máy tính hiệu Casio.
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị P gồm 32 cây viết các loại.
Tất cả vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/7/2022 giữa Công an huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về án phí: Áp dụng Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.”
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Phụng Hiệp; - VKSND tỉnh Hậu Giang; - CQĐT huyện Phụng Hiệp; - THA huyện Phụng Hiệp; - Những người tham gia TT; - Lưu HS. | Phạm Tiến Dũng |