- Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Trọng B trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Văn Tr ng B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2017/HSST Ngày 27 tháng 9 năm 2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH G
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân H
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn D
2. Bà Nguyễn Thị C
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn K - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2017, tại: Hội trường Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh G, Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2017/HS-ST ng y 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Văn Tr ng B, sinh năm 1971 tại huyện T, tỉnh B;
Đăng ký hộ khẩu thường trú v nơi ở: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh G;
Nghề nghiệp: L m nông; trình độ văn hóa: 09/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không;
Con ông Văn T (đã chết) v b Lê Thị X, sinh năm 1933; vợ: Lê Thị T, sinh năm: 1969; có 02 con sinh năm 1998 v 2000;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ng y 18/6/2017 cho đến nay tại nh tạm giữ thuộc Công an huyện Đ, có mặt.
* Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Anh Phạm V T, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện Đ, tỉnh G. Có mặt
+ Chị Lê Thị T, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
V o khoảng 13 giờ ng y 16/6/2017, Văn Trọng B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81N5-7215 từ nh ông Nguyễn Kế T thuộc Thôn 1, xã H, huyện Đ, tỉnh G đến tiệm tạp hóa của anh Phạm Vũ T thuộc Thôn 3, xã H, huyện Đ, tỉnh G để mua nước uống. Khi đi đến tiệm tạp hóa, B gọi người để mua nước uống nhưng không thấy ai trả lời nên B đi thẳng v o trong nh để gọi. Khi B đi đến phòng ngủ cạnh phòng bán tạp hóa thì phát hiện 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone 6S của chị Nguyễn Thị L l vợ anh T để ở trên giường. Thấy không có người trông coi, B nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại trên. B đi v o phòng ngủ lấy chiếc điện thoại rồi đi ra chỗ để chiếc xe mô tô biển kiểm soát 81N5-7215 bỏ điện thoại v o cốp xe. Lúc n y, chị Nguyễn Thị L đi về nh thấy B thì hỏi B mua gì, B nói mua 01 chai nước suối loại 1,5 lít thì chị L bán cho B. B mua nước xong thì tiếp tục điều khiển xe về l m c nh c phê cho nh ông T.
Sau khi B đi khỏi quán thì chị L phát hiện mất chiếc điện thoại di động nên đã trình báo cho Công an xã H v Công an huyện Đ, tỉnh G. Máy điện thoại của chị L có đặt chế độ định vị truy tìm máy, nhưng khi Văn Trọng B lấy trộm đã tắt nguồn điện thoại. Đến ng y 18/6/2017, Văn Trọng B từ xã H, huyện Đ đi về xã I, huyện C, tỉnh G. Trên đường đi B đã mở nguồn chiếc điện thoại lấy trộm của chị L nên gia đình chị L phát hiện được vị trí của chiếc điện thoại v báo với Công an huyện Đ. Khi B đi đến đoạn đường thuộc xã A, TP P, tỉnh G thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra phát hiện bắt v thu giữ trong người B chiếc điện thoại l vật chứng vụ án.
Theo Kết luận định giá t i sản số 38/ĐG-HĐ ngày 23/6/2017 của Hội đồng định giá t i sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ xác định chiếc điện thoại Iphone 6S m B chiếm đoạt có giá trị: 8.400.000đ (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).
Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Cáo trạng số 39/CTr-VKS, ngày 05/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố bị cáo Văn Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trọng B theo nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình sự:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 45 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo B từ 06 đến 08 tháng tù thời hạn tù tính từ ng y bị bắt tạm giữ (18/6/2017).
- Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự;
Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
Trong quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo v những người tham gia tố tụng khác nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử v o nghị án:
“ Bị cáo nhận thấy việc l m của mình l vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về h nh vi của mình. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội trở về với gia đình, lao động chính đáng để chăm lo cho gia đình”.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra v tại phiên tòa, bị cáo v những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về h nh vi, quyết định của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến h nh tố tụng, người tiến h nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Lời khai của bị cáo, lời khai của người l m chứng trong quá trình điều tra v tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các t i liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Văn Trọng B phạm tội như sau: Vì muốn có tiền tiêu x i để thỏa mãn nhu cầu lợi ích cá nhân nên vào ngày 16/6/2017, bị cáo Văn Trọng B đã lén lút trộm cắp của chị Nguyễn Thị L 01 máy điện thoại di động hiệu Iphone 6S trị giá 8.400.000 đồng.
Hành vi trộm cắp của bị cáo l nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo ho n to n nhận thức được h nh vi chiếm đoạt t i sản của người khác l vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu về t i sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo v phòng ngừa chung cho xã hội.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh G đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự l đúng người, đúng tội v đúng pháp luật.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu v thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố v tại phiên tòa, bị cáo đã th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải về h nh vi phạm tội của mình; bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây l những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, p khoản 1; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự sẽ được áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo
Về vật chứng vụ án:
+ 01 Xe mô tô biển kiểm soát 81N5 - 7215 mà B sử dụng, qua điều tra xác định b Lê Thị Triều l chủ sở hợp pháp. B Triều đã nhận lại t i sản v không có yêu cầu gì thêm.
+ 01 điện thoại di động Iphone 6S thuộc sở hữu của chị Nguyễn Thị L nh nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chị L nh l phù hợp theo quy định của Pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Văn Tr ng B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1; khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 45 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Văn Tr ng B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ng y bị cáo bị bắt tạm giữ (18/6/2017).
3. Căn cứ Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ng y 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Văn Trọng B phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm l 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ng y kể từ ng y tuyên án (27/9/2017), bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về phần liên quan đến quyền lợi của mình để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh G; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ t a phiên tòa Nguyễn Xuân H |