vanban.org

Bản án 39/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Trọng N 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/10/2017. Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép cao su màu đen, loại 03 quai, quai giữa màu đỏ; 02 (hai) … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

- 1 -
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN
Bản án số: 39/2017/HSST
Ngày: 26/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc.

- Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Kim Sơn.

2. Ông Nguyễn Minh Vương.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Lợi – Kiểm sát viên.

Ngày 26/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2017/HSST ngày 27/11/2017, đối với:

- Bị cáo: Ngô Trọng N (N Ngọng), sinh năm: 1983, tại C, Long An. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp 6, xã P, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 05/12; con ông: Ngô Hoàng P, sinh năm: 1953 và bà Ngô Thị L, sinh năm: 1955; có 01 con tên Ngô Tấn Trọng, sinh năm: 2009; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/9/2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 06 năm tù về tội "Cướp tài sản" tại Bản án hình sự sơ thẩm số 116/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 27/9/2008; ngày 10/01/2013, bị UBND huyện C ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 18 tháng theo Quyết định số 49; ngày 11/4/2013, bị UBND tỉnh Long An ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng theo Quyết định số 1263; ngày 04/4/2011, bị Công an huyện C xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi "Xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác"; ngày 13/7/2017, bị Công an xã T, huyện G xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản". Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2017 cho đến nay (có mặt).

- Người bị hại:

1. Ngô Quốc H, sinh năm: 1991 (vắng mặt);

HKTT: ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Nơi tạm trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

2. Nguyễn Minh T, sinh năm: 1986 (vắng mặt);

HKTT: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Nơi tạm trú: Khu phố 4, thị trấn T, huyện B, Tp. Hồ Chí Minh.

- 2 -

- Người làm chứng:

1. Huỳnh Hữu T, sinh năm: 1974 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

2. Nguyễn Trương Kim N, sinh năm: 1995 (vắng mặt);

HKTT: Khu 8, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Nơi tạm trú: Ấp 5, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

3. Đỗ Thị Thu T, sinh năm: 1973 (vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 4, xã Long An, huyện G, tỉnh Long An.

4. Lê Văn T, sinh năm: 1986 (vắng mặt);

HKTT: Ấp 7, xã Tân Ân, huyện C, tỉnh Long An.

Nơi tạm trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 03/6/2017, Ngô Trọng N thuê xe ôm từ G về C. Khi đến tiệm game bắn cá tại ấp N, xã T do anh Nguyễn Minh T làm chủ, nhìn thấy tiệm đóng cửa, cho rằng anh T thiếu tiền của mình, N nãy sinh ý định đột nhập vào tiệm trộm 02 bộ chương trình máy game bắn cá lấy tiền tiêu xài. N đi vòng ra phía sau tiệm, thấy một thanh sắt nằm dưới đất, N nhặt lên, leo lên mái nhà vệ sinh, dùng thanh sắt cạy lưới B40, chui xuống khu vực nhà vệ sinh, thấy 01 túi nilong màu đen, bên trong có 01 cây xà beng loại nhỏ, 01 lưỡi cưa sắt và 01 chai keo. N lấy cây xà beng cạy cửa sau, đi lên nhà trước, đến chỗ 02 máy game bắn cá, dùng xà beng cạy lấy 02 bộ chương trình bỏ vào túi nilong, sau đó đi xuống, lấy cưa sắt cưa chốt cửa bên hông phải của nhà vệ sinh đi ra ngoài, lúc N đi ra bị anh Huỳnh Hữu T nhìn thấy. N đi ra quốc lộ 50 thì gặp Nguyễn Trương Kim N đang đậu xe gần đó. N nhờ chở về quán K+ ở T, G, do quen biết nên N đồng ý, chở đến nơi N quay về. N vào quán gặp bà Đỗ Thị Thu T kêu bán lại 02 bộ chương trình nhưng bà T không mua. N gửi lại 02 bộ chương trình lại quán. Đến ngày 04/6/2017, thông qua 01 người tên Cà Lem, N bán 01 bộ chương trình cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) tại sân vận động huyện G với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, thông qua 01 người tên Nhóc, N bán bộ chương trình còn lại cho 01 người đàn ông khác (không rõ lai lịch) tại sân vận động Đa Phước, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh với giá 1.500.000 đồng.

- Vật chứng vụ án hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C bao gồm: 01 (một) đôi dép cao su màu đen, loại 03 quai, quai giữa màu đỏ do N bỏ lại; 02 (hai) đoạn kim loại, mỗi đoạn dài 26cm.

- Theo Kết luận định giá tài sản số: 35/KL-HĐĐGTS ngày 09/8/2017 là 5.400.000 đồng. Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.

- Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Trọng N khai: Hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

- 3 -

- Tại Cáo trạng số: 46/QĐ-KSĐT ngày 24/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Ngô Trọng N về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; Điều 45; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Trọng N từ 09 đến 12 tháng tù.

- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo sớm trở về với gia đình chăm sóc con nhỏ và trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về nội dung vụ án: Khoảng 12 giờ ngày 03/6/2017, Ngô Trọng N đến tiệm game bắn cá tại ấp N, xã T do anh Nguyễn Minh T làm chủ, nhìn thấy tiệm đóng cửa, không người trông giữ, N đột nhập vào tiệm trộm 02 bộ chương trình máy game bắn cá tổng giá trị là 5.400.000 đồng. N bán 02 bộ chương trình cho 02 người đàn ông không rõ lai lịch nên không thu hồi được.

Xét thấy hành vi của bị cáo Ngô Trọng N là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận biết tài sản hợp pháp của người khác là do công sức lao động làm ra được pháp luật bảo vệ. Việc dùng thủ đoạn lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo bằng một hình phạt thỏa đáng để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C đề nghị xét xử bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù là phù hợp.

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự.

- 4 -

Đối với tội trộm cắp tài sản, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét miễn cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép cao su màu đen, loại 03 quai, quai giữa màu đỏ; 02 (hai) đoạn kim loại, mỗi đoạn dài 26cm.

Về án phí: Bị cáo Ngô Trọng N là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Trọng N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 33; Điều 45; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Trọng N 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam ngày 28/10/2017.

- Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Ngô Trọng N 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/12/2017) để đảm bảo cho việc thi hành án.

- Áp dụng khoản 5, Điều 138 Bộ luật hình sự: miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Ngô Trọng N.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép cao su màu đen, loại 03 quai, quai giữa màu đỏ; 02 (hai) đoạn kim loại, mỗi đoạn dài 26cm.

- Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ