- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Triệu Duy S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 39/2017/HS-ST Ngày 29-12-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Trường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Luân
Bà Lê Thị Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia
phiên tòa: Bà Dương Thị Mai Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Tiên Du xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2017/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2017/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 tháng 2017 đối với bị cáo:
Triệu Duy S, sinh năm 1997
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn
Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12
Dân tộc: Dao; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giá o: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Triệu Văn S, SN 1970 và bà Dương Thị C, SN 1971.
Vợ con: Chưa có
Tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giam từ ngày 15/10/2017 đến ngày 21/11/2017 thay đổi biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. Hiện tại ngoại – có mặt
* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
HKTT: Thôn Đ, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Hiện nay đang thuê trọ tại thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Rạng sáng ngày 12/10/2017 tại khu trọ thôn M, xã H, huyện T, Triệu Duy S đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave BKS 99E1-453.52 của chị Nguyễn Thị Th. Trước đó S đã đột nhập vào trong phòng trọ của chị Th lấy 02 chìa khóa sau đó sử dụng mở khóa điện, khóa chữ U của chiếc xe máy. S đã dắt chiếc xe máy đến khu vực vườn chuối cách khu phòng trọ khoảng 300 mét cất giấu. Chị Th phát hiện mất chiếc xe máy đã làm đơn trình báo Công an huyện Tiên Du. Ngày 14/10/2017 khi bị triệu tập lên làm việc S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Kết luận định giá tài sản ngày 16/10/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du xác định chiếc xe máy Honda Wave BKS 99E1-453.52 có giá trị còn lại 13.000.000 đồng.
Cáo trạng số 140/CTr - VKS ngày 27/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du đã truy tố bị cá o Triệu Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự .
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Chiều ngày 09/10/2017 bị cáo đột nhập vào phòng trọ của chị Th lấy 01 chìa khóa điện xe máy và 01 chìa khóa chữ U. Sáng ngày 12/10/2017 lợi dụng lúc mọi người đang ngủ, xung quanh vắng vẻ bị cáo sử dụng 02 chìa khóa trên để mở khóa điện, khóa chữ U chiếc xe máy Honda Wave BKS 99E1 - 453.52. Sau đó bị cáo mang cất giấu chiếc xe máy tại vườn chuối cách phòng trọ khoảng 300 mét. Khi cơ quan Công an triệu tập bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Người bị hại chị Th vắng mặt tại phiên tòa, lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tháng 05/2016 chị có mua chiếc xe máy Honda Wave BKS 99E1-453.52 đăng ký mang tên con trai. Do nhu cầu đi lại nên chị thường xuyên sử dụng. Tối ngày 11/10/2017 chị dựng xe máy tại khu trọ thì bị mất. Cơ quan điều tra đã giao trả chị chiếc xe máy kèm 01 khóa chữ U, 02 chìa khóa nên chị không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 140/CTr- VKS ngày 27/11/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Triệu Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo S từ 8 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân: Không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa kim loại.
Bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A TÒ A Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bả n thân. Lời khai nhận tội của cá c bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại , vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Rạng sáng ngày 12/10/2017 tại khu trọ thôn M, xã H, huyện Tiên Du, một mình bị cáo S lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave BKS 99E1-453.52 trị giá 13.000.000 đồng của chị Th. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần một hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bản thân bị cáo là người dân tộc D sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ những phân tích đánh giá nêu trên, xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo đủ điểu kiện để hưởng án treo. Vì vậy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hì nh phạ t bố sung : Xét điều kiện kinh tế của bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Quá trình phạm tội bị cáo sử dụng 01 chìa khóa để mở cửa phòng chị Th. Đây là công cụ phạm tội và giá trị sử dụng thấp nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Th đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Triệu Duy S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
2. Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60; Điều 41 Bộ luật hình sự. Điều 76; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Xử phạt bị cáo Triệu Duy S 10 (Mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa kim loại màu trắng, trên thân in dòng chữ “Yales” (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/12/2017)
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án./.
| Nơi nhận; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Tiên Du; - Công an huyện Tiên Du; - Chi cục THADS huyện Tiên Du; - Những NTGTT; - Lưu HS, VP; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨ M PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Trƣờng |