vanban.org

Bản án 387/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/12/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 48 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V.

Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Thanh H. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Hiền, Nguyễn trung Tính, Lê Thanh Hiền - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 48 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 387/2023/HSST
Ngày: 13- 12- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thƣ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh – Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dƣơng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 384/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 528/2023/QĐXXST- HS ngày 30/11/2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Thanh H, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai; thƣờng trú: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha mẹ: Không rõ; tiền án tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/12/2019 Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phƣớc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thƣơng tích”, ngày 16/12/2019 đã đóng phạt. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/9/2022, có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Nguyễn Trung T, sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tr (đã chết) và bà Ngô Thị Thu Th, sinh năm 1968; có vợ là Phan Nguyễn Kim Ng, sinh năm 1992; có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 09/9/2022, có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Thanh V, sinh năm 2001 tại tỉnh Đ; thƣờng trú: Tổ 5, ấp 4, xã X, huyện X, tỉnh Đ; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh U, sinh năm 1967 và bà Danh Thị Xuân H, sinh năm 1975; bị cáo có 08 anh em (lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 09/9/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Thái Minh V, sinh năm 1993; trú tại: 28/9, tổ 9, khu phố 1, phƣờng Ph, thành phố Th, tỉnh B. Vắng mặt.

+ Anh Lâm Ngh, sinh năm 1972; trú tại: 493 Quốc lộ 1A, phƣờng L, thành phố Th, Thành phố H, vắng mặt.

+ Ông Đoàn Ngọc B, sinh năm 1947; trú tại: Số 11, phƣờng B, thành phố Th, Thành phố H. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Anh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, H điều khiển mô tô biển số 54X7-6026 đi mua cà phê ở khu vực thuộc khu phố Bình Đƣờng 2, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp một ngƣời đàn ông đi xe mô tô hiệu Wave (không rõ biển số, không rõ lai lịch) hỏi đƣờng đi thành phố Thủ Dầu Một, H chỉ đƣờng cho ngƣời đàn ông xong thì ngƣời đàn ông hỏi H: “có chơi đồ” (ma tuý) không? H nói: “có mới chơi đây”, ngƣời đàn ông nói “còn 02 cái 500.000 đồng em có lấy không"? H đồng ý và đƣa 01 tờ 500.000 đồng cho ngƣời đàn ông và lấy 01 gói nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. H cầm 02 gói ma túy này bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô về tiệm vá vỏ ở Quốc lộ 1A, phƣờng Linh Xuân, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (H làm vá vỏ thuê ở tiệm này). H lấy gói nylon miệng kéo dính nêu trên đổ ra một ít ma tuý đá vào cái nỏ và sử dụng tại đây.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, H gọi điện rủ bạn là T qua nhậu thì T chạy xe mô tô Exciter biển số 61B1- 49171 chở thêm Nguyễn Thanh V qua. Cả ba không nhậu, mà H nói với T và V: “thôi không nhậu thì còn ít đồ (ma tuý đá) vô nhà nghỉ chơi”, V và T đồng ý. T điều khiển xe mô tô nêu trên theo H đến nhà nghỉ Thái Hàn, khu phố Bình Đƣờng 2, phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng. Đến nơi H vào thuê phòng 102 hết 400.000 đồng. Khi đi H mang theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 02 gói ma túy, vào phòng H lấy gói ma túy cho V và T thấy, đồng thời nói mua ma túy hết 500.000 đồng, thuê phòng hết 400.000 đồng, tổng cộng là 900.000 đồng. H nói nếu V và T chơi thì chia đều mỗi ngƣời 300.000 đồng, V và T đồng ý sẽ trả lại H sau. H lấy gói nylon miệng kéo dính đổ ra một ít ma túy đá vào cái nỏ của cái bình và đốt lên cho cả ba sử dụng khoảng 20 phút. Đến khoảng 01 giờ ngày 09/9/2022, lực lƣợng Công an phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An kiểm tra phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 02 gói ma túy nên lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ:

- 01(một) gói nylon miệng kéo dính chứa chất tinh thể màu trắng và 01 gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể màu trắng.

- 01(một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 bình nhựa, 01 ống hút, 01 nỏ thủy tinh.

- 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển số 61B1- 491.71.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Attila màu bạc, biển số 54X7- 6026.

- Số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XSthu giữ trong ngƣời của Nguyễn Trung T.

- Số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus thu giữ trong ngƣời của Nguyễn Thanh V.

Tại Bản kết luận giám định số 423/MT-PC09 ngày 14/9/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có khối lƣợng 0,3365gam (M1); 0,0881gam (M2) loại Methamphetamine.

Đối với xe mô tô biển số 54X7- 6026, số máy BED 066778, số khung D8D 066778 thu giữ của Lê Thanh H. Qua xác minh, xe trên do ông Đoàn Ngọc B đứng tên sở hữu, tuy nhiên ông đã bán xe cho ngƣời khác, hiện không nhớ bán cho ai và không còn lƣu giữ giấy tờ mua bán xe này do thời gian đã quá lâu. Lê Thanh H khai nhận mƣợn xe mô tô trên của ông Lâm Ngh để đi công việc. Ông Ngh khai mua xe mô tô trên của một ngƣời đàn ông không rõ lai lịch, không làm thủ tục mua bán và thời gian mua đã lâu không nhớ tên ngƣời bán. Ông Ngh không biết H sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhƣng hết thời hạn đăng báo không ai đến nhận nên cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho ông Ngh.

Đối với xe mô tô biển số 61B1- 491.71 thu giữ của Nguyễn Trung T do anh Thái Minh V đứng tên sở hữu. T hỏi mƣợn xe của anh V đi công việc, anh V không biết T sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh V.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Lê Thanh H hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Theo bản Cáo trạng số 388/CT-VKS ngày 19/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 và Lê Thanh H bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trong phần tranh luận Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật nhƣ nội dung Cáo trạng, đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh H mức hình phạt từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định, tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc 300.000đ thu giữ của Nguyễn Thanh V và 300.000đ thu giữ của Nguyễn Trung T.

Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Lê Thanh H có ý kiến cho rằng chỉ rủ T, còn T chở theo V bị cáo không chịu trách nhiệm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, điều tra viên, cán bộ điều tra, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhƣ nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/9/2022, H chuẩn bị ma túy, bộ dụng cụ sử dụng ma túy và thuê phòng nghỉ. Sau khi vào phòng nghỉ H lấy ma túy ra và nói mua ma túy hết 500.000đ, thuê phòng hết 400.000đ, tổng cộng là 900.000đ chia đều 3 ngƣời thì V và T đồng ý sẽ trả lại H sau. H đổ ma túy vào bộ dụng cụ và cùng T, V sử dụng khoảng 20 phút. Đến khoảng 01 giờ ngày 09/9/2022, lực lƣợng công an phƣờng An Bình, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng kiểm tra hành chính phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy và trên bệ cửa sổ phòng các bị cáo thuê có 02 gói ma túy. Theo kết luận giám định, tổng số ma túy thu giữ của các bị cáo có khối lƣợng là 0,4246gam, loại Methamphetamine.

Việc bị cáo H thỏa thuận với bị cáo T và V cùng góp tiền mua ma túy và thuê phòng diễn ra sau khi bị cáo H đã mua ma túy và thuê phòng nghỉ; việc thỏa thuận này thể hiện ý chí cùng nhau thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi cất giữ ma túy của các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Trong phần tranh luận bị cáo Lê Thanh H cho rằng bị cáo chỉ rủ T, còn T chở theo V bị cáo không chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận khi T chở V đến bị cáo không có ý kiến gì và cùng T, V đến nhà nghỉ. Khi vào nhà nghỉ H bỏ ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy mang theo để cho T và V cùng H sử dụng. Do đó, hành vi chuẩn bị ma túy, dụng cụ, thuê địa điểm và rủ Nguyễn Trung T, Nguyễn Thanh V sử dụng ma túy của bị cáo Lê Thanh H đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vụ án các bị cáo thực hiện có tính chất dồng phạm nhƣng giản đơn. Vì vậy, cần xét đến vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để quyết định mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm mà các bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục, cải tạo riêng và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp; mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo H về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có phần quá nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt thấp hơn để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với ngƣời đàn ông bán ma túy cho Lê Thanh H hiện chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ niêm phong ghi số vụ 423/PC09 bên trong chứa 0,2445 gam (M1) và 0,0539 gam (M2) ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa, 01 đoạn ống hút và 01 nỏ thủy tinh là vật chứng trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô biển số 61B1- 491.71 thu giữ của Nguyễn Trung T do anh Thái Minh V đứng tên sở hữu. T hỏi mƣợn xe của anh V đi công việc, anh V không biết T sử dụng xe thực hiện hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh V theo biên bản lập ngày 21/9/2022 là phù hợp.

Đối với xe mô tô biển số 54X7- 6026, số máy BED 066778, số khung D8D 066778 thu giữ của Lê Thanh H. Qua xác minh, xe trên do ông Đoàn Ngọc B đứng tên sở hữu, tuy nhiên ông đã bán xe cho ngƣời khác, hiện không nhớ bán cho ai và không còn lƣu giữ giấy tờ mua bán xe này do thời gian đã quá lâu. Lê Thanh H khai nhận mƣợn xe mô tô trên của ông Lâm Ngh để đi công việc. Ông Ngh khai mua xe mô tô trên của một ngƣời đàn ông không rõ lai lịch, không làm thủ tục mua bán và thời gian mua đã lâu không nhớ tên ngƣời bán. Ông Ngh không biết H sử dụng xe mô tô này để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu nhƣng hết thời hạn đăng báo không ai đến nhận nên cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho ông Ngh là phù hợp.

Đối với số tiền 500.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS thu giữ của Nguyễn Trung T trong đó có 300.000 đồng T sử dụng vào việc hùn tiền để mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc, số tiền 200.000đ còn lại và chiếc điện thoại là tƣ vật cá nhân của T cơ quan điều tra đã trả lại cho T theo biên bản lập ngày 06/12/2022 là phù hợp.

Đối với số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus thu giữ của Nguyễn Thanh V, số tiền 300.000đ là tiền V dùng để hùn mua ma túy sử dụng nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nƣớc; đối với chiếc điện thoại là tƣ vật cá nhân của V nên cơ quan điều tra đã trả lại cho V theo biên bản lập ngày 06/12/2022 là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội và bị kết án, nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 48 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V.

- Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 47; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Thanh H.

- Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 01 (một) năm 08 (tám) tháng tu về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2022.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2022.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh V 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2022.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định: 0,2445 gam (M1) và 0,0539 gam (M2), đƣợc niêm phong trong một bì thƣ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có ghi số vụ 423/PC09; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 (một) bình nhựa, 01 (một) ống hút, 01 (một) nỏ thủy tinh.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thanh V và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) của Nguyễn Trung T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/01/2023 và Lệnh thanh toán lập ngày 04/01/2023).

3. Về án phí:

Các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Trung T và Nguyễn Thanh V, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ