vanban.org

Bản án 382/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 15/09/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B kháng cáo về phần hình phạt.

Phần quyết định đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Bản án phúc thẩm này. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thành N; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiêm Thanh H - tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B kháng cáo về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 342 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 382/2026/HS-PT
Ngày 15 tháng 9 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Mai

Các Thẩm phán:

Bà Mai Vương Thảo

Ông Nguyễn Ngọc Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Ngô Khánh Loan _ Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em _ Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 196/2026/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Kiêm Thanh H và các đồng phạm; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng.

Các Bị cáo có kháng cáo:

1. Kiêm Thanh H; sinh năm 1990; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: K L, phường H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nam; số CCCD: 048090007100; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Kiêm Đ và bà Nguyễn Thị Thanh T; Bị cáo có vợ tên Lã Thế Phương A và 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2017;

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 06/3/2025, bị TAND tỉnh Nghệ An xử phạt 05 năm tù về tội Tổ chức đánh bạc;

Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

2. Đoàn Văn Nhật L; sinh năm 1988; nơi sinh: Quảng Nam (cũ); nơi cư trú: khối H, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nam; số CCCD: 049088017347; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Đoàn Văn M và bà Trần Thị S; Bị cáo có vợ tên Ngô Thị Diễm P và 02 con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2023, đến ngày 08/11/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Phạm Thành N; sinh năm 1996; nơi sinh: Quảng Nam (cũ); nơi cư trú: F L, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nam; số CCCD: 049096013970; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: kinh doanh; Con ông Phạm Văn H1 và bà Nguyễn Thị N1; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2023, đến ngày 08/11/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh.

Hiện bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Thành N: Ông Trương Thanh T1; Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Công ty L2; B N, phường T, thành phố Hồ Chí Minh, có văn bản xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

4. Trần Văn B; sinh năm 1993; nơi sinh: Quảng Nam (cũ); nơi cư trú: khối H, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nam; số CCCD: 049093001551; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Con ông Trần Văn B1 và bà Lê Thị Q; Bị cáo có vợ tên Đinh Thị T2 và 01 con sinh năm 2021;

Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/9/2011, bị TAND thành phố Đà Nẵng xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Ngày 23/5/2016, bị TAND thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 4/2023, Nguyễn T3 và Kiêm Thanh H bàn bạc cùng nhau tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá cược bóng đá thông qua mạng internet. Nguyễn T3 lấy của một người không rõ lai lịch tài khoản cá độ có tên XU61 trên trang mạng Bong88.info. Trước giao tài khoản này cho H quản lý để cả hai cùng tổ chức đánh bạc, thắng thua sẽ chia nhau theo tỷ lệ 50:50. Trước và H chia tài khoản XU61 thành nhiều tài khoản nhỏ rồi giao cho nhiều người khác để tổ chức đánh bạc.

Thông qua mối quan hệ với Nguyễn T3 nên Đoàn Văn Nhật L đã liên hệ và được K thanh H giao cho tài khoản XU6110, hạn mức 100.000$, quy ước 01$ = 12.000đ để tổ chức đánh bạc. L và H thống nhất tính tiền vào thứ hai hằng tuần, thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản. Sau đó, L tiếp tục chia tài khoản XU6110 ra thành hai tài khoản là XU6110002 có hạn mức 100.000$ và tài khoản XU61108 có hạn mức 30.000$.

Đối với tài khoản XU61108: L giao cho cho Vương Quốc Q1 (sinh năm 1992, trú Tổ A khối A, phường T, thành phố H) để Q1 cùng Nguyễn Huỳnh Đ1 (sinh năm 1998, trú: Số B T, thôn T, phường C, thành phố H) tổ chức đánh bạc. Tuy nhiên, Q1 và Đ1 chưa cá cược thì đã bị Công an phát hiện.

Đối với tài khoản XU6110002: L sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, gắn sim số 0766.055.552 kết nối internet và đăng nhập vào trang Bong88.info, lấy tên là “Dna92” và chia tài khoản này thành 09 tài khoản nhỏ, rồi giao lại cho nhiều người chơi khác cá cược. L thống nhất với người chơi sẽ tính kết quả và thanh toán tiền thắng, thua vào ngày thứ 2 hàng tuần bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua số khoản tài khoản 525219886868 của L tại Ngân hàng A1. Cụ thể như sau:

- Tài khoản XU611002002, hạn mức 2000$, L giao cho Phạm Thành N. Cả hai quy ước 01$ = 20.000đ. Như vậy, L trực tiếp cá cược với N 1$ = 8.000đ.

- Tài khoản XU611002007, hạn mức 6000$; tài khoản XU61100200B, hạn mức 3000$; tài khoản XU611002009, hạn mức 3000$, L giao cho Nguyễn Phú H2. Cả hai quy ước quy ước 01$ = 50.000đ. Như vậy, L trực tiếp cá cược với Nguyễn Phú H2 1$= 38.000đ.

- Tài khoản XU61100200A, hạn mức 1000$, L giao cho Trần Văn B. Cả hai quy ước 1$ = 20.000đ. Như vậy, L trực tiếp cá cược với Trần Văn B 1$ = 8.000đ.

- Tài khoản XU611002001, hạn mức 3000$, L giao cho Nguyễn Văn T4. Cả hai quy ước 1$ = 20.000đ. Như vậy, L trực tiếp cá cược với Nguyễn Văn T4 1$ = 8.000.000đ.

- Tài khoản XU611002000, hạn mức 1000$; tài khoản XU611002008, hạn mức 1000$; tài khoản XU61100200E, hạn mức 1000$. Tất cả đều quy ước 01$ = 20.000đ. Các tài khoản này qua điều tra chưa xác định được người sử dụng cá cược. Như vậy, L trực tiếp cá cược với các người chơi này 1$ = 8.000đ.

Căn cứ kết quả trích xuất dữ liệu tài khoản XU611002 do L quản lý thể hiện: trong thời gian từ 01/9/2023 đến 18/9/2023, tổng số lượt cược của các tài khoản là 1022 lượt với tổng số điểm là 422.470$. Theo quy ước của L với người chơi thì tổng số tiền người chơi cá cược với L tương đương 11.439.500.000đ, tổng số tiền người chơi thắng cược là 4.719.604.600đ. Cụ thể:

+ Có 14 trận cá cược không hợp lệ.

+ Có 161 trận có số tiền cá cược từ 20.000.000đ trở lên, tổng số tiền tổ chức đánh bạc của L là 13.893.070.800đ.

Do L và Kiêm Thanh H quy ước 1$=12.000đ nên số tiền cá cược của L với H là 5.073.240.000đ, L thắng Hoàng 2.058.552.960đ. Trong đó, theo quy ước của H và L thì có 71 trận trên 20.000.000đ, tổng số tiền tổ chức đánh bạc của H là 5.396.373.840đ

Quá trình tổ chức đánh bạc thì L thua 86.983.700đ, thắng 62.733.920đ; Hoàng thua 140.098.560.000đ, thắng 94.100.000đ. L và H đã giao nhận tiền đến ngày 12/9/2023; từ ngày 12 đến ngày 18/9/2023 H chưa giao tiền cho L.

* Đối với Nguyễn Phú H2:

- Đối với tài khoản XU611002009: H2 giao lại cho Võ Minh C để C cá cược nhưng không tham gia hưởng lợi từ việc cá cược của C.

- Đối với tài khoản XU611002007: từ ngày 01/09/2023 đến ngày 14/9/2023, H2 đã cá cược 177 lượt với tổng số tiền cược là 46.271$ tương đương 2.313.550.000đ, số tiền H2 thắng cược là 1.047.106.500đ. Trong đó:

+ Có 2 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 71 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 2.190.477.500đ

+ Có 13 trận trên 50.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 1.605.997.500đ

Quá trình cá cược, H2 thắng 2.638,31$, H2 hưởng tiền hoa hồng 108,06$. Tổng cộng, H2 hưởng lợi số tiền 2.746,37 $ tương đương 137.318.000đ. Số tiền này H2 đã nhận từ L.

- Đối với tài khoản XU61100200B, từ ngày 15/9/2023 đến ngày 18/9/2023, H2 đã cá cược 79 lượt với tổng số tiền cược là 25.844$ tương đương 1.292.200.000đ, số tiền H2 thắng cược là 591.900.000đ. Trong đó:

+ Có 0 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 37 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 1.478.650.000đ.

+ Có 13 trận trên 50.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 1.264.050.000đ

Quá trình cá cược, H2 thắng 999,5$, H2 hưởng tiền hoa hồng 65,56$. Tổng cộng H2 hưởng lợi số tiền 1.065,06$ tương đương 53.253.000đ. H2 chưa nhận được số tiền này.

Như vậy, từ ngày 01/9/2023 đến ngày 18/9/2023, H2 đã sử dụng tài khoản XU611002007, XU61100200B đánh bạc với tổng số tiền là 3.669.127.500đ.

- Ngoài ra, Nguyễn Phú H2 còn khai vào ngày 13/9/2023, Võ Minh C nhắn tin cho H2 để cá cược lô đề như sau:

+ Ngày 13/9/2023, C cá cược đài M2 số tiền 66.000.000đ, Nguyễn Phú H2 giữ lại tự chung chi 60.000.000đ, chuyển đi 6.000.000đ. Kết quả, Võ Minh C thua 60.000.000đ.

+ Ngày 13/9/2023, C cá cược đài Miền B số tiền 29.000.000đ. Nguyễn Phú H2 giữ lại tự chung chi 26.500.000đ, chuyển đi cho một người tên T5 (không rõ lai lịch) 2.500.000đ.

+ Ngày 18/9/2023, C cá cược đài Miền Bắc 3.000.000đ. Hoàng tự chung chi với C. Kết quả Công thua 3.000.000đ.

Võ Minh C không thừa nhận hành vi cá cược ngày 13/9/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khôi phục dữ liệu điện tử đối với điện thoại của C và tiến hành đối chất giữa C và H2 nhưng không có kết quả nên không đủ cơ sở quy kết C đánh bạc số tiền trên. Do đó chỉ đủ cơ sở quy kết số tiền đánh bạc của H2 là số tiền H2 chuyển đi là 6.000.000đ (có tin nhắn chuyển đi). C thừa nhận cá cược ngày 18/9/2024 nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Đ để xử lý hành chính đối với C.

* Đối với Võ Minh C:

Sau khi nhận được tài khoản XU611002009 từ Nguyễn Phú H2, C sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6 kết nối internet để đăng nhập vào cá cược. Từ ngày 10/9/2023 đến ngày 18/9/2023, C đã cá cược tổng cộng 160 lượt; tổng số tiền cược là 27.555$ tương đương 1.377.750.000đ, C thắng cược với số tiền 507.598.500đ. Trong đó:

+ Có 17 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 70 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 1.035.695.000đ.

+ Có 6 trận trên 50.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 495.630.000đ.

Quá trình đánh bạc, Công thua H2 số tiền 2.110,35$, C được hưởng 59,2$. Kết quả Công thua H2 số tiền 2.051,16$, tương đương 102.558.000đ. H2 chưa nhận số tiền này và chưa giao nhận tiền thắng thua với L.

Tổng cộng, C đánh bạc với số tiền 1.035.695.000đ.

* Đối với Phạm Thành N:

Sau khi nhận được tài khoản XU611002002, N sử dụng điện thoại di động để đăng nhập trên mạng internet và cá cược. Trong quá trình tham gia cá cược và thua tiền trong tài khoản, N được L chuyển thêm 500$ vào tài khoản XU611002002 để tiếp tục cá cược. Tổng hạn mức tài khoản cá cược của N là 2.500$. Từ ngày 01/9/2023 đến ngày 15/9/2023, N đã cá cược tổng cộng 403 lượt; tổng số tiền cược là 285.205$ tương đương 5.704.100.000đ, số tiền N thắng cược là 2.346.204.600đ. Trong đó:

+ Có 5 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 58 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 7.265.271.400đ.

+ Có 40 trận trên 50.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 7.004.452.600đ.

Quá trình đánh bạc, N thắng L số tiền 10.147,42$, N được hưởng 626,96$ hoa hồng. Kết quả N thắng L số tiền 10.774,38$ tương đương 215.487.600đ. L mới giao cho N số tiền 50.000.000đ.

Tổng cộng, N đánh bạc với số tiền 7.265.271.400đ.

* Đối với Trần Văn B:

Sau khi nhận được tài khoản XU61100200A, hạn mức 2000$, Ba sử dụng điện thoại di động để đăng nhập trên mạng internet và cá cược. Từ ngày 05/9/2023 đến ngày 17/9/2023, Ba đã cá cược tổng cộng 12 lượt; tổng số tiền cược là 1.670$ tương đương 33.400.000đ, số tiền Ba thắng cược là 12.240.000đ. Trong đó:

+ Có 4 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 5 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 37.240.000đ.

+ Không có trận nào trên 50.000.000đ.

Quá trình đánh bạc, Ba thua L số tiền 54$, Ba được hưởng 3,58 $ hoa hồng. Kết quả Ba thua L số tiền 50,43$, tương đương 1.008.600đ. Ba và L đã giao nhận tiền thắng thua với nhau.

Tổng cộng, Ba đánh bạc với số tiền 37.240.000đ.

* Đối với Nguyễn Văn T4:

Sau khi nhận được tài khoản XU611002001, hạn mức 3000$, T4 sử dụng điện thoại Iphone 11 gắn thuê bao 0773.512.726 truy cập internet để cá cược. Từ ngày 01/9/2023 đến ngày 18/9/2023, T4 đã cá cược tổng lượt cá cược 28 lượt, tổng số tiền cá cược là 4.472$, tương đương 89.440.000đ, số tiền T4 thắng cược là 42.296.000đ. Trong đó:

+ Có 23 trận dưới 5.000.000đ.

+ Có 05 trận trên 5.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc 99.640.000đ.

+ Có 01 trận trên 50.000.000đ, với tổng số tiền đánh bạc là 64.000.000đ.

Quá trình đánh bạc, T4 thắng Lâm số tiền 123,6$, T4 được hưởng 10,33$ hoa hồng. Kết quả T4 thắng L số tiền 133,93$, tương đương 2.678.600đ. T4 và L đã giao nhận tiền thắng thua với nhau.

Tổng cộng, T4 đánh bạc với số tiền 99.640.000đ.

* Đối với Nguyễn Hồ Vũ :

Để có tiền trả số tiền 450.000.000đ cho L, ngày 11/8/2023, Phạm Thành N được L giới thiệu gặp Nguyễn Hồ V vay tiền trả nợ. V và N đã ký kết hợp đồng vay tiền với tại Văn phòng C1, thành phố H với số tiền vay là 500.000.000đ, lãi suất hai bên tự thỏa thuận là 10%/tháng (tương đương 120% trên năm) trong thời hạn 02 tháng từ ngày 11/8/2023 đến ngày 10/10/2023. Sau khi ký kết hợp đồng, V đã lấy trước tiền lãi 01 tháng là 50.000.000đ và giao cho N số tiền 450.000.000đ để N trả nợ cho L. Đồng thời, V thỏa thuận với N đến ngày 10/9/2023, N phải trả 50.000.000đ tiền lãi tháng thứ hai và ngày 10/10/2023, N phải trả lại V số tiền gốc 500.000.000đ. Tuy nhiên đến ngày 19/9/2023, N đến Cơ quan điều tra đầu thú và bị tạm giữ về hành vi đánh bạc nên chưa trả được tiền lãi và tiền gốc cho V như thoả thuận.

Ngoài những hành vi cá cược qua mạng internet như đã nêu trên, các đối tượng còn có hành vi đánh bạc khác. Cụ thể như sau:

- Ngày 15, 16/4/2023, Nguyễn Phú H2 nhắn tin cho Đoàn Văn Nhật L để cá cược bóng đá (cá cược bằng cách nhắn tin, không đăng nhập vào mạng cá cược). L đã bàn bạc với Kiêm Thanh H để chia nhau số tiền cá cược của Nguyễn Phú H2. Cụ thể:

+ Ngày 15/4/2023, Nguyễn Phú H2 cá cược trận L1 - T6 với số tiền 20.000.000đ. L tự cá cược với Nguyễn Phú H2. Kết quả Nguyễn Phú H2 thua 20.000.000đ.

+ Ngày 15/4/2023, Nguyễn Phú H2 cá cược trận Beyern M1 - H3 với số tiền 50.000.000đ. L cá cược với Nguyễn Phú H2 15.000.000đ, Kiêm Thanh H cá cược 35.000.000đ. Kết quả Nguyễn Phú H2 thắng 45.000.000đ (L thua 13.500.000đ, Kiêm Thanh H thua 31.500.000đ).

+ Ngày 15/4/2023, Nguyễn Phú H2 cá cược trận M - Leicester City với số tiền 50.000.000đ. L cá cược với Nguyễn Phú H2 35.000.000đ, Kiêm Thanh H cá cược 15.000.000đ. Kết quả Nguyễn Phú H2 thua 50.000.000đ.

+ Ngày 16/4/2023, Nguyễn Phú H2 cá cược trận W - A2 với số tiền 30.000.000đ. L cá cược với Nguyễn Phú H2 15.000.000đ, Kiêm Thanh H cá cược 15.000.000đ. Kết quả Nguyễn Phú H2 thua 30.000.000đ.

+ Ngày 16/4/2023, Nguyễn Phú H2 cá cược trận Nottingham F - Manchester United với số tiền 100.000.000đ. L cá cược với Nguyễn Phú H2 40.000.000đ, Kiêm Thanh H cá cược 60.000.000đ. Kết quả Nguyễn Phú H2 thua 100.000.000đ.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Phú H2 là 295.000.000đ. Số tiền đánh bạc của Đoàn Văn Nhật L là 118.500.000đ. Số tiền đánh bạc của Kiêm Thanh H là 176.500.000đ.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng đã quyết định:

-Căn cứ: Điểm c Khoản 2, 3 Điều 322, Điểm b Khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS 2015.

Tuyên bố bị cáo Kiêm Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; Xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng Điều 55 BLHS, tổng hợp hợp hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng.

Áp dụng Điều 56 BLHS, tổng hợp hình phạt 05 năm tù tại Bản án số 28/2025/HSPT ngày 06/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án là 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Phạt bổ sung bị cáo Kiêm Thanh H số tiền 30.000.000đ về tội “Tổ chức đánh bạc”; 10.000.000đ về tội “Đánh bạc”.

-Căn cứ: Điểm c Khoản 2, 3 Điều 322, Điểm b Khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS 2015.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Nhật L phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”; Xử phạt 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 02 (hai) năm tù về tội “Đánh bạc”. Áp dụng Điều 55 BLHS, tổng hợp hợp hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng. Phạt bổ sung số tiền 30.000.000đ về tội “Tổ chức đánh bạc”; số tiền 10.000.000đ về tội “Đánh bạc”

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành N phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 25.000.000đ.

-Căn cứ: Điểm c Khoản 2, 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 BLHS 2015.

Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đ.

- Về các biện pháp tư pháp:

+ Truy thu của bị cáo Phạm Thành N số tiền 2.846.204.600đ để sung công quỹ Nhà nước.

+ Truy thu bị cáo Kiêm Thanh H số tiền 945.039.500đ để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của các bị cáo khác và phần xử lý vật chứng, án phí, thông báo quyền kháng cáo bản án.

* Kháng cáo:

- Ngày 12 tháng 02 năm 2026, bị cáo Kiêm Thanh H có đơn kháng cáo với nội dung bản án sơ thẩm xử phạt quá nặng và số tiền truy thu quá cao so với khả năng của bị cáo.

- Ngày 23, 24 tháng 02 năm 2026, bị cáo Đoàn Văn Nhật L và bị cáo Trần Văn B có đơn kháng cáo với cùng nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt nhẹ hơn cho bị cáo.

- Ngày 24 tháng 02 năm 2026, bị cáo Phạm Thành N có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.346.204.000đ; bị cáo cho rằng chỉ hưởng lợi 50.000.000đ.

* Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm:

- Bị cáo Kiêm Thanh H, Trần Văn B rút kháng cáo tại phiên tòa mở ngày 14/8/2026.

- Bị cáo Đoàn Văn Nhật L có đơn xin rút kháng cáo ghi ngày 26/8/2026.

- Bị cáo Phạm Thành N vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Phạm Thành N, Trần Văn B theo đúng thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Riêng bị cáo Lê Thị Diễm P1 rút đơn kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo này.

Về nội dung: Qua nghiên cứu toàn bộ hồ sơ và trình bày của các bị cáo tại phiên tòa, thấy rằng: Hồ sơ vụ án còn một số tồn tại trong việc đánh giá, xác định số tiền đánh bạc, số tiền thu lợi bất chính và việc áp dụng biện pháp tư pháp truy thu tiền thu lợi bất chính đối với các bị cáo. Cụ thể: Vụ án hiện có 02 quan điểm khác nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng về cách tính tiền cá cược và truy thu tiền thu lợi bất chính dẫn đến việc tuyên truy thu tiền thu lợi bất chính các bị cáo có sự khác nhau, có bị cáo thu thiếu, có bị cáo thu thừa, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các bị cáo trong vụ án. Đồng thời, nội dung tại Kết luận điều tra vụ án, Cáo trạng, Bản án sơ thẩm không nêu chi tiết số tiền từng khoản, số tiền từng lần cá cược (tiền thắng, thua từng lượt), chỉ nêu chung chung dẫn đến mâu thuẫn với nhau về nhận định kết quả thắng thua trong vụ án. Cần điều tra, làm rõ chi tiết số tiền đánh bạc từng lần, nguồn tiền cá cược trên mạng đã đưa về đâu, còn ở các bị cáo tổ chức trong vụ án hay được chuyển về các đối tượng tổ chức không xác định được. Những nội dung còn mâu thuẫn, thiếu sót nêu trên tại hồ sơ của cấp sơ thẩm, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được mà phải điều tra, làm rõ lại tại cấp sơ thẩm.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11/02/2026 của TAND khu vực 10, giao hồ sơ về cho các cơ quan tiến hành tố tụng sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án nhằm khắc phục những tồn tại trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Tại phần thủ tục bắt đầu phiên toà ngày 14/8/2026, bị cáo Kiêm Thanh H trình bày ý kiến tự nguyện rút một phần đơn kháng cáo về phần hình phạt, bị cáo Trần Văn B tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Trần Văn B theo quy định tại các Điều 342 và 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngày 26/8/2026, Tòa án nhận đơn đơn xin rút kháng cáo của bị cáo Đoàn Văn Nhật L.

Phiên tòa phúc thẩm mở ngày hôm nay 15/9/2026 các bị cáo nói trên thay đổi ý kiến không rút kháng cáo nữa, Hội đồng xét xử không chấp nhận sự bất nhất của các bị cáo, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B. Ngoài ra, bị cáo Phạm Thành N có bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng yêu cầu này vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên không được xem xét, giải quyết.

Như vậy, trong vụ án này chỉ còn lại kháng cáo của các bị cáo Kiêm Thanh H và Phạm Thành N về số tiền bị truy thu vì cho rằng các bị cáo thực tế không được nhận số tiền đó.

Về nội dung vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, có cơ sở khẳng định:

Từ tháng 4/2023, Kiêm Thanh H và Nguyễn T3 đã lấy một tài khoản cá độ trên trang mạng Bong88.info về chia ra thành nhiều tài khoản nhỏ và giao cho người khác để tổ chức đánh bạc. Trong đó có tài khoản XU6110 được H giao cho Đoàn Văn Nhật L. Từ tài khoản trên, L tiếp tục chia ra các tài khoản nhỏ và giao cho người chơi. Đối với các tài khoản do L quản lý, L đã tổ chức đánh bạc 161 lần với tổng số tiền là 13.893.070.800đ. Thanh Hoàng và Trước đã tổ chức đánh bạc 71 lần với số tiền 5.396.373.840đ. Quá trình tổ chức đánh bạc, L, Thanh H, T3 thua tiền nên không thu lợi bất chính. Hành vi của T3, Thanh H, L đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự.

Thông qua tài khoản cá độ lấy của Đoàn Văn Nhật L, Nguyễn Phú H2 đã đánh bạc 109 lần với tổng số tiền 3.669.277.500đ, Võ Minh C đánh bạc 70 lần với tổng số tiền 1.035.695.000đ, Phạm Thành N đánh bạc 58 lần với tổng số tiền 7.265.271.400đ, Trần Văn B đánh bạc 05 lần với tổng số tiền 37.240.000đ, Nguyễn Văn T4 đánh bạc 05 lần với tổng số tiền 99.640.000đ. Ngoài ra, Nguyễn Phú H2 đánh bạc 05 lần (đánh với Thanh H, L) với tổng số tiền 295.000.000đ và còn đánh bạc dưới hình thức cá cược lô đề (đánh với C) số tiền 6.000.000đ. Các hành vi của Phú H2, C, N, T4 đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điểm b, c Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Trần Văn B đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo Điểm c Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, dưới hình thức cá độ bóng đá (không qua mạng internet) Kiêm Thanh H đã đánh bạc 04 lần với tổng số tiền 176.500.000đ, Đoàn Văn Nhật L đánh bạc 05 lần với tổng số tiền 118.500.000đ. Hành vi này của Thanh H, L đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Hồ V đã cho Phạm Thành N vay số tiền 500.000.000đ với lãi suất 10%/tháng (tương đương 120%/năm), cao hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Bộ luật Dân sự (20%/năm). Hai bên thỏa thuận tiền lãi phải trả đến ngày 10/9/2023 là 100.000.000đ, trong đó số tiền V đã lấy lãi trước là 50.000.000đ. Như vậy, số tiền V thu lợi bất chính theo thỏa thuận là 83.333.000đ. Hành vi của V đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo trên với tội danh và hình phạt có căn cứ pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo Kiêm Thanh H và Phạm Thành N về số tiền bị truy thu vì cho rằng các bị cáo thực tế không được nhận số tiền đó:

Căn cứ quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự thì việc tịch thu sung quỹ nhà nước được áp dụng đối với “vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội”. Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao tại Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 về việc “Thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử” thì có sự phân biệt giữa trường hợp các bị cáo cùng đánh bạc với nhau (như đánh phỏm, đánh chắn, đánh liêng, đánh sâm...) và trường hợp con bạc đánh với chủ bạc (như lô đề, cá độ bóng đá, đua ngựa, xóc đĩa...). Thực tiễn xét xử thì đối với tội phạm “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” qua không gian mạng, kể cả qua tin nhắn thì số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc và số tiền thắng bạc được tính để xác định khung hình phạt nhưng không truy thu số tiền đánh bạc mà chỉ truy thu số tiền các bị cáo thắng bạc- tức tiền thu lợi bất chính để sung quỹ Nhà nước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc hồ sơ vụ án còn một số tồn tại trong việc đánh giá, xác định số tiền đánh bạc, số tiền thu lợi bất chính và việc áp dụng biện pháp tư pháp truy thu tiền thu lợi bất chính đối với các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, các cơ quan tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thu thập đầy đủ dữ liệu điện tử của những lần đánh bạc, số tiền đánh bạc của các bị cáo trong vụ án này nên cũng không còn vấn đề gì cần thiết phải làm rõ. Hội đồng xét xử thấy chỉ cần xem xét lại phần quyết định về các biện pháp tư pháp của bản án sơ thẩm cho phù hợp.

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng không cùng phương thức và có sai sót trong việc truy thu đối với các bị cáo Nguyễn T3, Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Nguyễn Phú H2 và Võ Minh C. Cụ thể như sau:

* Đối với tội “Tổ chức đánh bạc”:

- Đoàn Văn Nhật L đã nhận số tiền cá cược từ các con bạc số tiền 9.432.690.000đ, chuyển cho Nguyễn T3 và Kiêm Thanh H số tiền 4.373.544.000đ, giữ lại số tiền 5.059.146.000đ để cá cược.

- Nguyễn T3 và Kiêm Thanh Hoàng nhân số tiền cá cược từ L số tiền 4.373.544.000đ, chuyển lên nhà trên và giữ lại số tiền 1.640.079.000đ để cá cược.

Quá trình tổ chức đánh bạc, L, H, T3 thua tiền nên không thu lợi bất chính. Do vậy không truy thu tiền của các bị cáo này.

Tòa án cấp sơ thẩm đã truy thu của bị cáo L số tiền 5.059.146.000đ và truy thu của Thanh H, Nguyễn T3 mỗi bị cáo số tiền 820.039.500đ là chưa phù hợp.

* Đối với tội “Đánh bạc”:

- Nguyễn Phú H2: sử dụng số tiền 3.669.277.500đ để cá cược qua mạng, đã nhận tiền thắng cược 1.047.106.500đ nên cần truy thu của Phú H2 số tiền 1.047.106.500đ là đúng.

Tuy nhiên, khi tham gia hành vi đánh bạc khác bằng cách nhắn tin, không đăng nhập vào mạng cá cược với Đoàn Văn Nhật L, Kiêm Thanh H thì chỉ có ngày 15/4/2023, Phú H2 thắng 45.000.000đ nên cần truy thu tiền thắng bạc này của Phú H2.

Tổng cộng truy thu bị cáo Phú H2 là 1.092.106.500đ.

- Võ Minh C: Từ ngày 10/9/2023 đến ngày 18/9/2023, C đã cá cược với số tiền là 1.377.750.000đ, C thắng cược với số tiền 507.598.500đ nên cần truy thu tiền thắng bạc này của C.

- Đoàn Văn Nhật L, Kiêm Thanh H: khi tham gia đánh bạc khác bằng cách nhắn tin, không đăng nhập vào mạng cá cược với Nguyễn Phú H2 thì:

Ngày 15/4/2023, L thắng 20.000.000đ.

Ngày 15/4/2023, L thắng 35.000.000đ, Thanh H thắng 15.000.000đ

Ngày 16/4/2023, L thắng 15.000.000đ, Thanh H thắng 15.000.000đ.

Ngày 16/4/2023, L thắng 40.000.000đ, Thanh H thắng 60.000.000đ.

Như vậy, cần truy thu tổng số tiền L thắng bạc là 110.000.000đ, Thanh H thắng bạc là 90.000.000đ.

Trong các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm truy thu không đúng nói trên thì chỉ bị cáo Thanh H có kháng cáo nhưng để đảm bảo pháp luật được áp dụng đúng quy định và đảm bảo công bằng cho các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết sửa phần biện pháp tư pháp của bản án sơ thẩm kể cả cho các bị cáo không có kháng cáo, việc sửa này là có lợi cho các bị cáo.

Từ những phân tích trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng đã quyết định về phần các biện pháp tư pháp chưa phù hợp pháp luật, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kiêm Thanh H, sửa một phần bản án về các nội dung như đã phân tích ở trên.

Các bị cáo Phạm Thành N, Trần Văn B, Nguyễn Văn T4 bị tuyên truy thu tiền thắng cược là phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thành N.

Về án phí hình sự phúc thẩm, theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Kiêm Thanh H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí. Bị cáo Phạm Thành N không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều 342 và 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B kháng cáo về phần hình phạt.

Phần quyết định đối với các bị cáo Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Bản án phúc thẩm này.

2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thành N;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng về biện pháp tư pháp:

- Truy thu của bị cáo Phạm Thành N số tiền 2.846.204.600đ để sung công quỹ Nhà nước.

(Giữ nguyên phần truy thu đối với các bị cáo Phạm Thành N, Trần Văn B, Nguyễn Văn T4.)

3. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kiêm Thanh H;

Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2026/HS-ST ngày 11 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Đà Nẵng về biện pháp tư pháp đối với các tội danh “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc” như sau:

- Truy thu của bị cáo Nguyễn Phú H2 số tiền 1.092.106.500đ để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu của bị cáo Võ Minh C số tiền 507.598.500đ để sung công quỹ Nhà nước.

- Truy thu của bị cáo Đoàn Văn Nhật L số tiền 110.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

- Truy thu bị cáo Kiêm Thanh H số tiền 90.000.000đ để sung quỹ Nhà nước.

- Không truy thu bị cáo Nguyễn Trước .

4. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Thành N phải chịu án phí là 200.000đ.

Các bị cáo: Kiêm Thanh H, Đoàn Văn Nhật L, Trần Văn B không phải chịu án phí

5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ