vanban.org

Bản án 380/2018/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 28/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ T, sửa một phần bản án sơ thẩm:

Xử phạt bị cáo Vũ T08 (tám) tháng tù về tội "Đánh bạc" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vũ Tcó trách nhiệm phối hợp với chính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ T, sửa một phần bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 248 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 380/2018/HSPT
Ngày 28- 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Mai Văn Quang

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Phổ

Ông Trần Nam Hà

- Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Mai Chi - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 368/2018/HSPT ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo Vũ Tdo có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Vũ T, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1983; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở thôn Ng, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp tự do; quốc tịch Việt Nam; dân tộc Kinh; tôn giáo không; trình độ văn hóa 9/12; con ông:Vũ G và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Trần Thị Thùy Nh và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự không; nhân thân ngày 25/5/2015, bị Công an quận X, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “làm nhục người khác” (đã xóa) – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận X và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận X thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ T bán số lô đề và tự ôm bảng từ ngày 25/9/2017 tại vỉa hè trước cửa số 107 phố T, phường s, quận X, Hà Nội đến thời điểm bị bắt. Số tiền T hưởng lợi bất chính trong thời gian bán lô đề từ ngày 25/9/2017 đến thời điểm bị bắt là 07 ngày trung bình mỗi ngày T hưởng lợi 200.000 đồng. Tổng số tiền T hưởng lợi là 1.400.000 đồng. Số tiền trên T đã chi tiêu cá nhân hết.

Kết quả hình thức đánh bạc (mua bán số lô số đề) dựa trên kết quả của sổ xố kiến thiết miền Bắc, được mở thưởng vào các ngày trong tuần. Giải gồm 01 giải đặc biệt và 26 giải còn lại. Con số đề trúng khi con số đề trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt. Khách mua sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra mua con số đề đó. Con số đề ba càng thì sẽ so với 03 số cuối của giải đặc biệt, nếu khách trúng thì khách sẽ được hưởng gấp 400 lần số tiền khách bỏ ra mua. Con số lô thường trúng khi con số lô trùng với 2 số cuối của 1/27 giải, khách mua được hưởng số tiền tương ứng: 1 điểm lô tương đương 80.000 đồng; Lô xiên 2 trúng khi 2 con số lô trùng với 2/27 giải, khách được hưởng số tiền gấp 10 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó. Lô xiên 3 trúng khi 3 con số lô trùng với 2 số cuối của 3/27 giải, khách chơi được hưởng số tiền gấp 40 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó. Lô xiên 4 trúng khi 4 con số lô trùng với 2 số cuối của 4/27 giải, khách chơi được hưởng số tiền gấp 100 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó.

Bảng ngày 02/10/2017, Vũ T bị bắt quả tang bán được tổng cộng 126 số đề, 21 số lô, 06 số lô xiên, 04 số đề ba càng. Với tổng số tiền là 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm ngàn đồng chẵn), số tiền Đoàn Văn K sử dụng đánh bạc là 229.00 đồng (Hai trăm hai chín ngàn đồng chẵn)

Do T bị bắt trước khi mở kết quả xổ số nên tổng số tiền lô đề trong ngày 02/10/2017 T bán được 7.300.00 đồng. Công an thu được của T số tiền 1.120.00 đồng tiền bán lô đề trong ngày 02/10/2017, số tiền 6.180.000 đồng còn lại T dùng đã trả cho khách trúng của ngày hôm trước. Nên khi bị bắt quả tang cơ quan công an chỉ thu giữ được của T số tiền 1.120.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2018/HSST ngày 12/4/2018 của Tòa án nhân dân quận X, thành phố Hà Nội đã xét xử:

Tuyên bố bị cáo Vũ T phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Vũ T 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 17/4/2018, bị cáo Vũ Tcó đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội chăm sóc vợ con và nuôi sống gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc vợ ốm, con còn nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ lời khai của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ tang vật và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/10/2017, bị cáo có hành vi bán số đề cho anh Đoàn Văn K với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 7.300.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân để xử phạt bị cáo 08 tháng tù là phù hợp; tuy nhiên bản án sơ thẩm áp dụng điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo là không đúng vì nhân thân bị cáo đã có 01 tiền sự.

Xét yêu cầu xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Nhân thân bị cáo mặc dù có 01 tiền sự năm 2015 về hành vi làm nhục người khác nhưng đã được xóa; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo hiện bị bệnh thần kinh; bị cáo có con nhỏ và hiện là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Xét thấy, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định của pháp luật, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng của bị cáo, sửa án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt 08 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và của những người tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng qui định của pháp luật. Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định nên hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/10/2017, Vũ T đang có hành vi bán số lô, số đề cho khách tại vỉa hè số 107 phố T, phường S, quận X, Hà Nội thì bị bắt, thu giữ tổng số tiền bán số lô, số đề là 7.300.000 đồng. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, văn hóa, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc đánh bạc dưới hình thức bán số lô đề là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm hưởng lợi bất chính. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân và đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 08 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội có mức độ, số tiền sử dụng để đánh bạc không lớn; quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân bị cáo mặc dù có 01 tiền sự năm 2015 về hành vi làm nhục người khác nhưng đã được xóa; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo đang bị bệnh thần kinh, con còn nhỏ, bản thân là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hoàn cảnh của bị cáo, theo qui định của pháp luật, bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo; việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hại gì cho xã hội. Do đó, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt 08 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.

Về án phí: Theo qui định của pháp luật, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ T, sửa một phần bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt bị cáo Vũ T08 (tám) tháng tù về tội "Đánh bạc" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Vũ Tcó trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Án phí, Lệ phí Tòa án; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Vũ Tkhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 28/6/2018.

Cỡ chữ