vanban.org

Bản án 38/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 13/06/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/06/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H. Sửa bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nh n d n huyện Lệ Thủy, t nh Quảng B nh về phần h nh phạt đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Trần Đ nh H 05 (Năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Đ nh H 45 (Bốn mươi lăm) ngày, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án. V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình H phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H. Sửa bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nh n d n huyện Lệ Thủy, t nh Quảng B nh về phần h nh phạt đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HS-PT
Ngày: 13 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa và bà Từ Thị Hải Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Thư ký T a án nh n d n t nh Quảng B nh

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Qu ng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử h nh sự. Toà án nhân dân t nh Quảng B nh, mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án h nh sự thụ lý số 55/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025, đối với bị cáo Trần Đ nh Hdo kháng cáo của bị cáo đối với Bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của T a án nh n d n huyện Lệ Thủy, t nh Quảng B nh.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Đ nh H, sinh ngày 14/6/1997; nơi thường trú và chổ ở: Thôn B, xã N, huyện L, t nh Quảng B nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hóa: 12/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim P và bà Trần Thị N; có vợ: Trần Thị Mỹ Lvà 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/3/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Quảng B nh, có mặt.

Trong vụ án c n có các bị cáo Đặng Ngọc Đ, Mai Tiến L, Lê Thị Thúy V, Phạm Thế N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Lương Thị Ngọc B, anh Trần Đ nh H1, ông Mai Xuân H, anh Lý Xuân H nhưng không có kháng cáo, kháng nghị. Kháng cáo của bị cáo Hùng không liên quan đến những người này nên T a án không triệu tập đến phiên t a.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 18 tháng 3 năm 2024, Đặng Ngọc Đ rủ Mai Tiến L và Trần Đ nh H góp tiền mua ma túy để sử dụng tại nhà anh Trần Đ nh H1, nhà này do bố H mua cho anh H1 và hiện không ai ở nhà. Đ, L và H thống nhất mỗi người góp số tiền 1.500.000 đồng để mua ma túy về sử dụng. Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, L điện thoại gọi cho Phạm Thế N hỏi mua ma túy loại Ketamine, với số tiền 4.500.000 đồng th N đồng ý. Lợi bảo với N gửi lên huyện Lệ Thủy, t nh Quảng Bình cho L. N bảo L chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của N, N nhắn tin số tài khoản ng n hàng cho L. L bảo Đ chuyển tiền cho Nh n trước, c n L và H sẽ chuyển tiền góp sau th Đ đồng ý. Lợi nhắn tin số tài khoản của N cho Đ. Đ chuyển khoản số tiền 4.500.000 đồng cho Nh n. Sau khi nhận được tiền, Nh n mang ma túy loại Ketamine được đựng trong 01 (một) bao thuốc lá nhãn hiệu “555”, để trong 01 (một) túi nilon màu đen gửi xe Buýt không rõ biển số từ thành phố Đồng Hới lên cho L. Lúc này, H chuyển cho L số tiền 1.500.000 đồng góp để mua ma túy vào tài khoản của L. Sau khi nhận được tiền, L chuyển vào tài khoản của Đ số tiền 3.000.000 đồng trả tiền góp mua ma túy của L và H. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, Đ và L đến quán cà phê H, Tổ d n phố P, Thị Trấn K ngồi đợi lấy ma túy. Khi đi, Đ mang theo 01 (một) đĩa sứ màu trắng và 01 (một) túi nilon màu cam, trên túi nilon có d ng chữ “KING 2024" "COLLAGEN" là ma túy loại nước vui (ma túy loại MDMA do Đ đưa từ nước Lào về). L mang theo một loa, hai bộ đèn chiếu đi xe taxi đến cầu Sao Vàng thuộc thôn X, xã L. L nhận từ người đàn ông phụ xe Buýt một túi nilon màu đen, bên trong túi nilon có một gói thuốc lá nhãn hiệu "555", bên trong gói thuốc lá có túi nilon chứa ma túy loại Ketamine rồi cả hai lên xe Taxi đi đến thôn B, xã N. Khi đến nhà anh H1, H đưa Đ và L vào ph ng ngủ. Hùng đưa nệm và trải thảm lông cừu ra giữa nền nhà. Lúc này, Đ sử dụng tài khoản của Đ chuyển số tiền 2.500.000 đồng của Đ vào tài khoản của H để góp tiền gọi Lê Thị Thúy V và Lương Thị Ngọc B đến nhà anh H1 để cùng Đ, L, H sử dụng ma túy và phục vụ trong quá tr nh sử dụng ma túy. Đ đưa ra một đĩa sứ màu trắng và một túi ma túy loại nước vui, còn L đưa ra một thẻ Căn cước công d n mang tên Mai Tiến L, một túi nilon màu trắng bên trong túi nilon có chứa chất màu trắng là ma túy loại Ketamine, hai đèn chiếu, một cái loa. Sau khi cắm điện cho bộ đèn chiếu và loa. L làm ống hút bằng cách cuộn 01 tờ tiền Ng n hàng Nhà nước Việt Nam, mệnh giá 20.000 đồng thành ống rồi cố định bằng 03 vỏ màu vàng bên ngoài đầu lọc của điếu thuốc lá “NO 555” “GOLD”. H đưa ra một máy lửa màu đỏ. L lấy gói nước vui màu cam trên bề mặt có ghi chữ “COLLAGEN” đổ vào một ít trong chai nước AQUAFINA để pha. H đi đón V và B đến. L đưa cho Đ và H chai nước vui vừa pha (ma túy loại MDMA) mỗi người uống một ngụm, c n V và B không sử dụng nước vui. Lúc này, H sử dụng số tài khoản của H chuyển khoản cho V n số tiền 5.000.000 đồng để trả tiền công cho V và B phục vụ. Khi sử dụng nước vui xong, L đưa một túi ni lon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng đổ ra đĩa sứ màu trắng, dùng bật lửa màu đỏ đốt nóng đáy đĩa và sử dụng thẻ căn cước công d n của m nh xào và chia ma túy thành nhiều đường nhỏ, rồi bỏ đĩa ra giữa thảm. H lấy ống hút làm bằng tờ tiền Ng n hàng nhà nước Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng rồi hít ma túy loại Ketamine vào mũi. Sau đó L, Đ, V, B cùng sử dụng theo cách thức như H. L, Đ, H, V, B thay phiên nhau sử dụng ma túy đã được xào, chia thành đường trên đĩa sứ đồng thời vừa nghe nhạc. Sau khi thay nhau sử dụng hết ma túy trên đĩa sứ, V tiếp tục đổ ma túy lên bề mặt đĩa sứ, dùng bật lửa đốt nóng đáy đĩa và dùng thẻ căn cước công d n của L xào, chia ma túy thành đường trên bề mặt đĩa. V đưa ma túy đã được xào cho Đ và mọi người cùng V tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang L, Đ, H, V, B đang sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 347/KL-KTHS ngày 26 tháng 3 năm 2024, Ph ng Kỹ thuật h nh sự (PC09) Công an t nh Quảng B nh kết luận: chất bột màu trắng trên bề mặt đĩa sứ là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng: 0,061g (không phẩy không trăm sáu mươi mốt gam); chất màu cam được chứa trong một túi nilon màu cam, trên túi nilon có d ng chữ “KING 2024" "COLLAGEN", đã được mở miệng túi là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng: 9,876g (chín phẩy tám trăm bảy mươi sáu gam);

Ngày 17/5/2021 Ph ng Kỹ thuật h nh sự Công an t nh Quảng B nh đã có các Kết luận giám định số 712 và 713 kết luận:

Ketamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự: 40, danh mục III, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

MDMA nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tư: 11, danh mục IB, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ.

Về vật chứng: Quá tr nh điều tra, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã tạm giữ toàn bộ số ma túy c n lại sau khi các bị cáo đã sử dụng và các công cụ, phương tiện liên quan đến việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Tại bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, t nh Quảng B nh đã quyết định: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật h nh sự; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật h nh sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng h nh sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đ nh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về h nh phạt: Xử phạt bị cáo Trần Đ nh H 05 năm 06 tháng tù (Năm năm sáu tháng tù), thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/3/2024.

Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về tội danh và h nh phạt đối với các bị cáo Đặng Ngọc Đ, Mai Tiến L, Lê Thị Thúy V, Phạm Thế N; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10/4/2025 bị cáo Trần Đ nh H làm đơn kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đ nh, nuôi con nhỏ, làm một công d n có ích cho xã hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo Trần Đ nh Hthừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và Bản án sơ thẩm đã quyết định. Giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ h nh phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nh n d n t nh Quảng B nh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: T a án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 05 năm 06 tháng tù là phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ, vai tr hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, đặc điểm nh n th n của bị cáo. Tuy nhiên, quá tr nh xét xử sơ thẩm bị cáo đã cung cấp tài liệu, chứng cứ năm 2023 cứu người đuối nước được chính quyền địa phương xác nhận, nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng cho bị cáo. Quá tr nh chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ năm 2021 đã có công trong việc chống dịch Covid 19 được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có ông bà nội là người tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng thưởng Hu n, Huy chương kháng chiến. Đ y là những t nh tiết mới chưa được xem xét, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị HĐXX căn cứ thêm khoản 2 Điều 51 BLHS và điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng h nh sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H. Sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Đ nh H, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo 06 tháng tù. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Ngày 10/4/2025 bị cáo Trần Đ nh H làm đơn kháng cáo đối với Bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nh n d n huyện L, t nh Quảng B nh. Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, h nh thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng h nh sự. V vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của bị cáo theo tr nh tự, thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh: Tại phiên t a, bị cáo Trần Đ nh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung bản Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã quyết định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo Đặng Ngọc Đ, Mai Tiến L, Lê Thị Thúy V, Phạm Thế N, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật bị thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận. Sáng ngày 18 tháng 3 năm 2024, các bị cáo Đặng Ngọc Đ, Mai Tiến L và Trần Đ nh H rủ nhau góp tiền mua ma túy của bị cáo Phạm Thế N để sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, các bị cáo Đ, L mang theo đĩa sứ, ma túy MDMA, loa, đèn chiếu đến cầu Sao Vàng thuộc thôn X, xã L đợi xe Buýt để nhận ma túy loại Ketamine do Phạm Thế N chuyển đến. Sau khi nhận được ma túy do bị cáo N chuyển đến, các bị cáo đi đến nhà anh H1 tại thôn B, xã N. Tại đ y, các bị cáo Đ, L, H rủ Lê Thị Thúy V và Lương Thị Ngọc B đến để cùng Đ, L, H phục vụ và sử dụng ma túy Ketamine. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang L, Đ, H, V, B đang sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Đ, L, H là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm h nh sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo Đ, L, H đã cố ý rủ nhau góp tiền mua ma túy, L mang thêm ma túy nước vui và các phương tiện, công cụ tổ chức sử dụng ma túy cho V và B. Đ là người khởi xướng, rủ rê và là người trực tiếp liên hệ mua ma túy, là người cùng V trực tiếp pha, xào ma túy cho Đ, L, H, V, B sử dụng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Ngoài ra, c n trực tiếp đe doạ nghiêm trọng đến sức khỏe và sự phát triển của bản th n, g y thiệt hại về kinh tế cho gia đ nh và làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự trị an. V vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên bố bị cáo Trần Đ nh H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật h nh sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ h nh phạt của bị cáo Trần Đ nh H, Hội đồng xét xử thấy:

Quá tr nh xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ, vai tr khi thực hành vi phạm tội, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, đặc điểm nh n th n của bị cáo. Trong quá tr nh điều tra và tại phiên t a bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải về hành vi phạm tội của m nh; có thời gian phục vụ trong qu n ngủ được tặng giấy khen; có thành tích trong sản xuất kinh doanh năm 2019 - 2020 được UBND t nh tặng Bằng khen; có thành tích trong công tác ph ng chống lũ lụt năm 2020 được chính quyền địa phương xác nhận; có bố mẹ là người có thành tích trong sản xuất kinh doanh được Thủ tướng Chính phủ và UBND t nh tặng Bằng khen, nên áp dụng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại các điểm s, v khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS nên đã áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung h nh phạt liền kề, nhưng bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. V vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng mức h nh phạt 05 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp, tương xứng với mức độ, tính chất, vai tr của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quá tr nh xét xử sơ thẩm bị cáo đã cung cấp tài liệu năm 2023 cứu người đuối nước được chính quyền địa phương xác nhận, nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng cho bị cáo. Quá tr nh chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm năm 2021 đã có công trong việc chống dịch Covid 19 được chính quyền địa phương xác nhận. Có ông bà nội là người tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng thưởng Hu n, Huy chương kháng chiến. Đ y là những t nh tiết mới chưa được xem xét, nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần h nh phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo là người bị đạt rủ rê, thực hiện hành vi với vai tr thứ yếu, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, nh n th n tốt, đang nuôi con nhỏ nên có hoàn cảnh gia đ nh khó khăn. V vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ thêm khoản 2 Điều 51 BLHS; điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng h nh sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H. Sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần h nh phạt đối với bị cáo Trần Đ nh H.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí h nh sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng h nh; điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 38; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 58 Bộ luật h nh sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án, xử:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đ nh H. Sửa bản án h nh sự sơ thẩm số 19/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Toà án nh n d n huyện Lệ Thủy, t nh Quảng B nh về phần h nh phạt đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Trần Đ nh H 05 (Năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Đ nh H 45 (Bốn mươi lăm) ngày, theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí h nh sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Đ nh H không phải chịu.

4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ