vanban.org

Bản án 38/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện An phú, tỉnh An Giang Tuyên án 02/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bé L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Võ Văn N 7 (bảy) năm tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, 7 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2024/HSST
Ngày 15 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Phong Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Thi và ông Võ Hoàng Nghiệp

Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Tòa án nhân dân huyện An Phú đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/HSST ngày 10/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Võ Văn N, sinh ngày 01/01/1995, Nơi ĐKHKTT: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông: Võ Văn Cuôl (đã chết); Mẹ: Lê Thị Nga (đã chết). Anh, em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ tư; bị cáo chưa lập gia đình.

- Tiền sự: Chưa.

- Tiền án: Ngày 20/6/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày 20/6/2023 theo Bản án số 32/2023/HSST (chưa chấp hành xong).

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 cho đến nay.

2. Võ Thị Bé L, sinh ngày 06/4/1997, Nơi ĐKHKTT: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; con ông: Võ Văn Cuôl (đã chết); Mẹ: Lê Thị Nga (đã chết). Chồng: Lâm Văn Linh, sinh năm 1990; có 01 con, sinh năm 2019. Anh, em ruột có 05 người, bị cáo là người nhỏ nhất.

- Tiền sự: Chưa.

- Tiền án: Chưa.

- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 cho đến nay.

Những người tham gia phiên tòa:

Bị cáo:

1. Võ Văn N, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

2. Võ Thị Bé L, sinh năm: 1997; Nơi ĐKHKTT: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Hoàng Quân, sinh năm: 1996; Địa chỉ: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (có mặt)

2. Ông Hà Văn Khiêm, sinh năm: 1988; Địa chỉ: Khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

3. Ông Nguyễn Thái Bình, sinh năm:1989; Địa chỉ: Khóm Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

4.Ông Võ Thanh Đông, sinh năm: 1988; (vắng)

5. Ông Võ Tuấn Em, sinh năm: 2002; (vắng)

Cùng địa chỉ: Ấp Sa Tô, xã Khánh Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang.

6. Ông Võ Chí Cường, sinh năm: 1998; Địa chỉ: Ấp An Hòa, xã Khánh An, tỉnh An Giang. (vắng)

7. Bà Lê Thị Phượng, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (vắng)

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an huyện An Phú phối hợp cùng Công an thị trấn Long Bình tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Khi Lực lượng đến khu vực khóm Tân Khánh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú phát hiện Nguyễn Hoàng Quân đang đi bộ từ hướng chợ Long Bình về Cầu Long Bình có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên Tổ công tác phối hợp với Phòng PC04 Công an tỉnh An Giang đến kiểm tra người Quân. Qua kiểm tra Lực lượng phát hiện bên trong vỏ bao thuốc lá hiệu Bayon Quân cất giấu bên trong áo trên vai trái có đựng 01 bọc nilon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Qua làm việc, Quân thừa nhận tinh thể bên trong bọc nilon trên là ma túy đá, Quân vừa mua của Võ Thị Bé L nhà ở khóm Tân Bình, thị trấn Long Bình, huyện An Phú với giá 200.000 đồng để sử dụng. Nên Lực lượng tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Hoàng Quân và tạm giữ tang vật có liên quan.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú tiếp tục điều tra mở rộng, ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Võ Thị Bé L và Võ Văn N. Qua khám xét phát hiện thu giữ: 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có đựng 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có chứa 02 viên nén màu xanh nghi là ma túy, 01 bọc nilon trong suốt được hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy màu xanh, 01 đoạn ống thủy tinh, 01 cái nỏ, 01 cây cân tiểu li màu nâu, 01 bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, 02 cây kéo bằng kim loại, 01 cây ben bằng kim loại, 01 bật lửa màu xanh, 01 bật lửa màu trắng, 05 vỏ bọc nilon (tất cả đều đã qua sử dụng), 09 đoạn ống thủy tinh chưa qua sử dụng và nhiều tang vật có liên quan.

Qua làm việc, L và N thừa nhận: 01 bọc nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá, L được N cho để sử dụng và bán lại kiếm lời. L và N còn khai nhận ngoài bán mà túy cho Quân, còn bán ma túy cho Hà Văn Khiêm, Nguyễn Thái Bình, Võ Chí Cường. N còn thừa nhận bán ma túy cho Võ Thanh Đông, Võ Tuấn Em và Trình Văn Nữa; cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm cho Đông sử dụng ma túy tại nhà N 03 lần. Qua làm việc với Quân, Khiêm, Bình, Cường, Đông, Tuấn Em đều thừa nhận có mua ma túy của L và N. Còn Đông có đến nhà N sử dụng ma túy 03 lần, 02 lần không phải trả tiền và 01 lần trả 200.000 đồng. Riêng, 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có chứa 02 viên nén màu xanh qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Diazepam, có khối lượng: 0,3665 gam, L và N đều không biết của ai, do nhà thường có nhiều đối tượng lui tới nên không biết 02 viên nén màu xanh do ai để lại, nếu N và L biết đó là ma túy đã sử dụng hết.

Căn cứ Kết luận giám định số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định:

- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Lê Thị Diễm, Nguyễn Minh Lý, Nguyễn Quốc Dũng, Nguyễn Hoàng Quân. Bên trong có 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,0627 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

- 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an thị trấn Long Bình, huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Lê Thị Diễm, Nguyễn Minh Lý, Trần Thanh Tiền, Võ Văn N, Võ Thị Bé L. Bên trong có:

+ 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền đỏ đựng 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,1164 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

+ 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền xanh đựng 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền xanh chứa 02 (hai) viên nén màu xanh, khối lượng 0,3665 gam (chưa xác định được loại gì) do không đủ điều kiện phương tiện để kết luận.

Căn cứ Kết luận giám định số 6905/KL-KTHS ngày 13/11/2023 của Phân Viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, xác định: 01 (một) gói ghi vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08/8/2023, được niêm phong có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang, trong có 01 gói nilon chứa chất bột màu xanh là ma túy, loại Methamphetamine, Diazepam, khối lượng đã được trả lời trong Kết luận giám định số 153 ngày 08/8/2023 (là 0,3665 gam).

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- 01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M1 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0170 gam;

- 01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M2 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0758 gam;

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Bayon, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu vàng tím, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng;

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái nỏ đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây cân tiểu li màu nâu, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây ben bằng kim loại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu hồng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây kéo băng kim loại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng;

- 05 (năm) vỏ bọc nilon, đã qua sử dụng;

- 09 (chín) đoạn ống thủy tinh, chưa qua sử dụng;

- 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu trắng, chưa qua sử dụng;

- 01 (một) cây dao tự chế cán quấn dây long, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây roi điện màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đỏ loại phím bấm, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng;

- Số tiền Việt Nam 2.860.000 đồng (thu giữ trên người L).

Ngày 10/8/2023, Võ Văn N và Võ Thị Bé L bị khởi tố điều tra.

Tại Bản Cáo trạng số 26/CT-VKSAP-HS ngày 09/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố bị cáo Võ Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và bị cáo Võ Thị Bé L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Theo điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 1 Điều 254 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Văn N.

Theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Võ Thị Bé L.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu, người có quyền lợi, N vụ liên quan trình bày phù hợp nội dung vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Đối với bị cáo Võ Văn N đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm b khoản 1 Điều 254 và điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 55, Điều 56, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án 7 năm đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, mức án 01 năm đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, mức án 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đối với bị cáo Võ Thị Bé L đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án 07 năm đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Buộc bị cáo N nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý là 2.450.000 đồng.

Hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy:

- 01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M1 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0170 gam;

- 01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M2 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0758 gam;

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Bayon, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu vàng tím, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng;

- 01 (một) đoạn ống thủy tinh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cái nỏ đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây cân tiểu li màu nâu, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây ben bằng kim loại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu hồng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây kéo băng kim loại, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng;

- 05 (năm) vỏ bọc nilon, đã qua sử dụng;

- 09 (chín) đoạn ống thủy tinh, chưa qua sử dụng;

- 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu trắng, chưa qua sử dụng;

- 01 (một) cây dao tự chế cán quấn dây long, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây roi điện màu đen, đã qua sử dụng;

Đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước:

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đỏ loại phím bấm, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám trắng, đã qua sử dụng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, đã qua sử dụng;

Đề nghị tịch thu sung quỹ Võ Thị Bé L số tiền Việt Nam 2.860.000 đồng (thu giữ trên người L)

Đề nghị tịch thu tiêu huỷ: Đối với 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền xanh đựng 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền xanh chứa 02 (hai) viên nén màu xanh, khối lượng 0,3665 gam theo kết luận giám định của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh không hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật đã sử dụng hết cho công tác giám định.

Đối với:

- Nguyễn Hoàng Quân bị bắt quả tang thu giữ khối lượng ma túy qua giám định là 0,0627 gam loại Methamphetamine, nhưng chưa đủ định lượng để quy kết trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

- Hà Văn Khiêm, Nguyễn Thái Bình, Võ Chí Cường, Võ Thanh Đông và Võ Tuấn Em có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ cho Công an thị trấn Long Bình, Công an xã Khánh An, Khánh Bình lập hồ sơ theo dõi và xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp

- Trình Văn Nữa, do không có mặt ở địa phương, chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý theo quy định.

- Người đàn ông (sinh sống bên Campuchia) bán ma túy cho N, do chưa xác định được nhân thân, chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý theo quy định.

Tại phiên toà bị cáo N không thừa nhận hành vi ổ chức sử dụng trái phép chất mà tuý, tuy nhiên, qua quá trình lấy lời khai tại cơ quan điều tra bị cáo đều thừa nhận có tổ chức địa điểm và dụng cụ để sử dụng ma tuý cho đối tượng tên Đông.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoặc tranh luận bổ sung.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, những người có quyền lợi N vụ liên quan vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án. Xét, những người tham gia tố tụng vắng mặt đều đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của những người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp về khoảng thời gian, địa điểm cũng như cách thức bị cáo thực hiện hành vi, nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Võ Văn N và Võ Thị Bé L đã có hành vi nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Hoàng Quân, Hà Văn Khiêm, Nguyễn Thái Bình, Võ Chí Cường, Võ Thanh Đông, Võ Tuấn Em, loại Methamphetamine với khối lượng giám định là 0,1791 gam. Căn cứ các quy định pháp luật, hành vi trên của bị cáo N và bị cáo L đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Bị cáo Võ Văn N còn có hành vi tàng trữ 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy túy (gồm 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 cây kéo kim loại, 02 bật lửa, 01 cây cân tiểu li, 10 đoạn ống thủy tinh, 01 cây ben kim loại, 01 cái nỏ) và tổ chức cho Võ Thanh Đông sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà 03 lần. Căn cứ các quy định pháp luật, các hành vi trên của bị cáo N đã phạm vào tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 254 và điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật

Xét về tính chất vụ án thì thấy như sau:

Ma tuý là chất gây nghiện, ưu tiên sử dụng trong y học và do Nhà nước

độc quyền quản lý đồng thời nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép chất ma tuý. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý khiến cho người sử dụng bị tàn phá nặng nề về sức khoẻ, tính mạng lẫn tinh thần và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội. Các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ nhận thức, năng lực hành vi để biết tác hại của việc sử dụng ma tuý cũng như việc pháp luật nghiêm cấm các hành vi mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý.

Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, hành vi của các bị cáo không

chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý mà còn gây tác động xấu đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; Các bị cáo cũng là đối tượng nghiện ma tuý, trong một khoảng thời gian dài đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho các đối tượng nghiện ma tuý trên địa bàn nên cần có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Trước đó, ngày 20/6/2023, bị cáo N bị Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm kể từ ngày tuyên án, chưa chấp hành xong. Tuy nhiên, hành vi phạm tội lần này của bị cáo là trong thời gian thử thách của án treo mà bị cáo phạm tội mới nên áp dụng khoản 5 Điều 65 và Điều 56 bộ luật hình sự Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt đối với bản án trước là 06 tháng tù với bản án mới và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

Về tình tiết tăng nặng : Bị cáo L không có. Đối với bị cáo N, ngày 20/6/2023 bị Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, chưa được xóa án tích lại tiếp tục tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Xét về nhân thân, bị cáo Võ Thị Bé L là có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự. Bên cạnh đó, trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo mới phạm tội lần đầu; do nhận thức pháp luật còn hạn chế; thuộc thành phần dân nhân lao động nên áp dụng tình tiết theo điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo N trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; Tuy nhiên, tại phiên toà hôm nay bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, qua lời khai tại cơ quan điều tra và xét hỏi tại Toà bị cáo đã thống nhất với tội danh và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, do nhận thức pháp luật còn hạn chế; thuộc thành phần dân nhân lao động nên áp dụng tình tiết theo điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt:

Trong vụ án này có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn các bị cáo đều là người thực hành trong đồng phạm do đó hành vi và hậu quả của các bị cáo đến đâu thì xử lý đến đó.

Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như sự cần thiết đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc đối với các bị cáo nhằm đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Việc áp dụng hình phạt tù còn nhằm đảm bảo mục đích cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội về sau.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về kiến nghị: Riêng, 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có 01 bọc nilon trong suốt có rãnh khóa viền màu xanh bên trong có chứa 02 viên nén màu xanh qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine, Diazepam, có khối lượng: 0,3665 gam, hai bị cáo L và N khai đều không biết, tuy nhiên cơ quan điều tra cần đấu tranh làm rõ khi lập biên bản khám nghiệm hiện trường.

Nguyễn Hoàng Quân bị bắt quả tang thu giữ khối lượng ma túy qua giám định là 0,0627 gam loại Methamphetamine, nhưng chưa đủ định lượng để quy kết trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra chuyển xử phạt vi phạm hành chính và đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Hà Văn Khiêm, Nguyễn Thái Bình, Võ Chí Cường, Võ Thanh Đông và Võ Tuấn Em có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ cho Công an thị trấn Long Bình, Công an xã Khánh An, Khánh Bình lập hồ sơ theo dõi và xử phạt vi phạm hành chính và đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Trình Văn Nữa, do không có mặt ở địa phương, đề nghị tiếp tục điều tra theo dõi và xử lý khi phát hiện đối tượng.

Người đàn ông (sinh sống bên Campuchia) bán ma túy cho N, do chưa xác định được nhân thân, chưa làm việc được, khi nào làm việc được xử lý theo quy định.

Về quyền kháng cáo và án phí:

Các bị cáo và người có quyền lợi N vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Tuyên bố bị cáo Võ Thị Bé L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm b khoản 1 Điều 254; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 55; Điều 56, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Võ Văn N 7 (bảy) năm tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ dụng cụ vào việc sử dụng trái phép chất ma túy”, 7 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù.

Áp dụng Điều 56 khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự

Tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án số 32/2023/HSST ngày 20/6/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang, hình phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Buộc bị cáo Võ Văn N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 02/8/2023.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),

Xử phạt bị cáo Võ Thị Bé L 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam ngày 02/8/2023.

Căn cứ vào các Điều 46, Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015.

Tịch thu bán hóa giá, sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đỏ loại phím bấm, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xám trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu đen, đã qua sử dụng;

Tịch thu sung quỹ số tiền Việt Nam 2.860.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004394 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.

Tịch thu, tiêu hủy:

01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M1 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0170 gam;

01 (một) phong bì được niêm phong được đánh dấu M2 (Vụ số 153/KL-KTHS (MT-GT) ngày 08 tháng 8 năm 2023) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Nguyễn Thị Mỹ Hà, Lê Thị Diễm. Bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định khối lượng 0,0758 gam;

- 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Bayon, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu vàng tím, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn ống thủy tinh, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nỏ đã qua sử dụng; 01 (một) cây cân tiểu li màu nâu, đã qua sử dụng; 01 (một) cây ben bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo bằng kim loại có cán bằng nhựa màu hồng, đã qua sử dụng; 01 (một) cây kéo băng kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng; 05 (năm) vỏ bọc nilon, đã qua sử dụng; 09 (chín) đoạn ống thủy tinh, chưa qua sử dụng; 20 (hai mươi) ống hút nhựa màu trắng, chưa qua sử dụng; 01 (một) cây dao tự chế cán quấn dây long, đã qua sử dụng; 01 (một) cây roi điện màu đen, đã qua sử dụng;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Phú và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú).

Buộc bị cáo Võ Văn N nộp lại số tiền thu lợi bất chính 2.450.000 đồng.

Căn cứ Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Võ Văn N và Võ Thị Bé L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2024), các bị cáo, người có quyền lợi N vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của của những người vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ